vanban.org

Bản án 23/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang Tuyên án 25/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế, không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 6; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chống người thi hành công vụ - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế, không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập.
  • Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 330 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 23/2019/HS-ST
Ngày: 25- 9-2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Vũ.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Huỳnh Văn Thêm; Ông Đào Hoàng Khương.

-Thư ký phiên tòa:Bà Đào Chúc Phương- Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sátnhân dân huyện Vĩnh Thuậntham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Phúc- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2019, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 20/2019/TLST-HS ngày 31 tháng 7năm 2019theo Quyết địnhđưa vụ án ra xét xử số: 103/2019/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 9 năm 2019đối vớibị cáo:

Trần Văn Ph, sinh năm 1974 tại huyện Th, tỉnh Kiên Giang; Nơi cư trú: ấp H, xã B, huyện Th, tỉnh Kiên Giang; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 01/12; Giới tính: nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn P và bà Phan Thị T; Tiền sự, tiền án: chưa; Nhân thân: tốt; Có vợ là Nguyễn Út H; Có con là Trần Hoài A và Trần Hoài Th. Bị cáo đang được tại ngoại; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Văn B, sinh năm 1980; địa chỉ: ấp Th, xã B, huyện Th, tỉnh Kiên Giang; vắng mặt.

Người làm chứng:

1/ Nguyễn Út H, sinh năm 1979: địa chỉ: ấp H, xã B, huyện Th, tỉnh Kiên Giang; có mặt

2/ Nguyễn Út H1, sinh năm 1986; địa chỉ: ấp Th, xã B, huyện Th, tỉnh Kiên Giang; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 05/5/2019, sau khi uống rượu Trần Văn Ph đến nhà Huỳnh Thị B (mẹ vợ Ph) tại ấp Th, xã B, huyện Th, tỉnh Kiên Giang tìm vợ là Nguyễn Út H để lấy sổ hộ khẩu gia đình nhưng Út H không đưa nên giữa Ph và Út H xảy ra mâu thuẫn, Ph đuổi đánh Út H và dùng lời lẽ thô tục xúc phạm gia đình bên vợ, lớn tiếng gây mất an ninh trật tự. Lúc này, Út H điện thoại trình báo cho Trần Văn B là Công an viên phụ trách ấp Th biết, sau đó B báo cáo lãnh đạo Công an xã B và được phân công đến nhà bà B giải quyết vụ việc. Khi đi đến nhà bà B, vừa bước vào nhà thì Trần Văn Ph đến chỉ tay vào trán anh B dùng lời lẽ thô tục chửi và đe dọa chém anh B rồi sau đó bỏ đi. Khoảng 10 phút sau, Ph quay lại cầm theo cây chĩa cán bằng trúc dài 02 mét, loại chĩa 04 mũi bằng kim loại dài khoảng 0,4 mét tiến thẳng đến chổ anh B đang ngồi lập biên bản đe dọa nếu lập biên bản thì sẽ đâm anh B.Sau đó, Ph cầm chĩa đâm thẳng vào mặt anh B, do cảnh giác B chụp được chĩa nên không trúng, sự việc sau đó được mọi người can ngăn, Ph lấy cây chĩa vứt bỏ xuống sông, anh B điện thoại trình báo Công an xã B đến lập biên bản về hành vi chống người thi hành công vụ của Ph. Trong quá trình điều tra, Ph thừa nhân toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: Không.

Tại bản Cáo trạng số 22/CT-VKSVT ngày 31 tháng 7 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận đã truy tố bị cáoTrần Văn Ph về tô ̣i “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòaKiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị tuyên bốbị cáo Trần Văn Phphạm tội “Chống người thi hành công vụ”theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng khoản 1Điều 330; điểm i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36của Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Trần Văn Ph 30 đến 36 tháng cải tạo không giam giữ. Do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế, không có thu nhập ổn định nên đề nghị miễn khấu trừ thu nhập.

- Bị cáo Trần Văn Phthừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án và các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra; Điều tra viên; Viện kiểm sát; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Đối với việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn B đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án, xét thấy không trở ngại đến việc giải quyết vụ án. Do đó căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt Trần Văn B.

Tại phiên tòa bị cáoTrần Văn Phđã thừa nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã truy tố, cụ thể: Vào Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 05/5/2019 Trần Văn Ph biết Trần Văn B là Công an viên phụ trách ấp đến làm nhiệm vụ giải quyết việc gây mất an ninh trật tự của Ph nhưng Ph dùng lời lẽ thô tục chửi và đe dọa dùng vũ lực đối với anh B, trong khi anh B đang lập biên bản thì Ph có hành vi dùng chĩa đâm thẳng vào mặt anh Bnhưng không trúng nhằm cản trở anh B thực hiện nhiệm vụ. Lờ i khai nhận của bi ̣ cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.Như vậy, đủ cơ sở kết luận: Trần Văn Phlà ngườ iđủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; Bị cáo biết rõ anh Trần Văn B đang thi hành công vụ nhưng lại dùng vũ lực nhằm chống đối, cản trở không cho anh B thực hiện công vu ̣; bị cáo thực hiện với lỗi cố ýtrực tiếp nên hành vi của bị cáoPhđủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáoxâm hại trực tiếp đến sức khỏe của lực lượng đang làm nhiệm vụ, xâm hại đến hoạt động đúng đắn của người thi hành công vụ được nhà nước giao, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây dư luận không tốt trong quần chúng nhân dân. Do đó,cần tuyên cho bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, bị cáo mới phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn Bcó đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáonên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự.

Thấy rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống bình thường của xã hội mà chỉ cần giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã Bgiám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo cũng đủ răn đe bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự:Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Văn Bkhông yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1Điều 330 của Bộ luật Hình sự.Tuyên bố bị cáo Trần Văn Phphạm tội “Chống người thi hành công vụ”.

Áp dụngkhoản 1 Điều 330; điểmi, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36của Bộ luậtHình sự xử phạt bị cáoTrần Văn Ph 03 năm cải tạo không giam giữ, tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân xã B nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Do bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn về kinh tế, không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và các Điều 6; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,bị cáoTrần Văn Phphải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáocó mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ