- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị Thanh Tàng trữ hàng cấm - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS: Tuyên bố bị cáo Phan Thị T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2019/HS-ST Ngày: 21/5/2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H -TỈNH HÀ TĨNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Hoàn.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Thành và Ông Lê Xuân Tình.
- Thư ký phiên toà: Bà Bạch Thị Hà, cán bộ Tòa án nhân dân huyện H.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Lâm, Kiểm sát viên.
Hôm nay, vào hồi 07 giờ 30 phút, ngày 21 tháng 5 năm 2019, tại Trụ sở- Toà án nhân dân huyện H mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 15/2019/TLST-HS, ngày 18 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2019/QĐXXST-HS, ngày 08 tháng 4 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 02/HSST-QĐ, ngày 24 tháng 4 năm 2019 và Thông báo mở lại phiên tòa số 02/2019/TB-TA, ngày 13 tháng 05 năm 2019 đối với bị cáo: Họ và tên Phan Thị T, sinh ngày: 25/5/1990; Giới tính: Nữ. Tại xã I, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không;
Quốc tịch: Việt Nam. Trình độ học vấn: 09/12;
Nghề nghiệp: Lao động tự do.
Con ông Phan Xuân H, sinh năm 1963 và bà Đặng Thị C, sinh năm 1968. Anh, chị em ruột: Có 03 người, bị cáo là con đầu trong gia đình: Chồng: Vương Khả N, sinh năm 1986. Con: Có 03 con(Lớn sinh năm 2010 nhỏ sinh năm 2016). *Tiền án, tiền sự: Không. *Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/01/2019 đến ngày 17/01/2019 thì được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” (Có mặt tại phiên tòa). *Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Vƣơng Khả N, sinh năm 1986; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. (Anh N có Đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng pháo trong dịp Tết Nguyên đán Kỷ Hợi năm 2019, nên Phan Thị T đã dò hỏi một số người bạn về ý định mua pháo. Đến ngày 09/01/2019, thì T nhận được một cuộc điện thoại của một người đàn ông không rõ địa chỉ gọi điện thoại đến và tự xưng là bạn của người quen T và hỏi T về việc mua pháo. Sau khi trao đổi và thỏa thuận giá cả mỗi hộp pháo loại 36 quả có giá 500.000 đồng thì T đã đặt mua 05 hộp pháo và người đàn ông đó hẹn sẽ chủ động liên lạc cho T về thời gian và địa điểm giao pháo. Đến khoảng 18 giờ ngày 13/01/2019, người đàn ông đó gọi điện cho T và hẹn giao pháo tại khu vực Đền thờ Võ Tá Sắt thuộc địa phận xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh. Phan Thị T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha- Sirius mang, biển kiểm soát 75L1-010.56 (xe của vợ chồng T mua từ năm 2015 đến nay nhưng chưa sang tên đổi chủ) đến đền thờ Võ Tá Sắt để mua pháo. Tại đây, T gặp một người đàn ông tuy nhiên do trời tối nên không nhìn rõ hình dạng và đặc điểm, sau khi người đàn ông này yêu cầu T đưa số tiền 2.500.000 đồng thì đã giao cho T 05 hộp pháo, loại mỗi hộp 36 quả được đựng trong thùng bìa cát tông màu vàng. Sau khi mua được số pháo trên T đưa về cất giấu tại gầm giường nhà mình chờ đến tết để sử dụng. Đến khoảng 16 giờ ngày 16/01/2019, do lo sợ lực lượng chức năng sẽ phát hiện hành vi tàng trữ pháo của mình, nên T đã lấy 05 hộp pháo nói trên bỏ lên xe mô tô biển kiểm soát 75L1-010.56 để đưa đến nhà của bố mẹ chồng ở Thôn N, xã L, huyện H để cất giấu. Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, khi T đang điều khiển xe mô tô, biển kiếm soát 75L1-010.56 chở theo số pháo nói trên di chuyển trên đường Quốc lộ 1A, đoạn qua thôn H, xã K, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh thì bị lực lượng Phòng Cảnh sát cơ động Công an tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Công an huyện H phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật.
Tang vật thu giữ bao gồm: 05 khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối hộp có kích thước (14,5x14,5x15)cm, bên ngoài có nhiều màu sắc, có in chữ nước ngoài, bên trong có 36 vật hình trụ tròn được gắn kết vào nhau và được niêm phong dán kín trong một thùng giấy bìa cát tông màu vàng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha -Sirius mang biển kiểm soát 75L1-010.56; 01 Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, bên trong có gắn thẻ sim 0972.241.692.
Tại bản Kết luận giám định số 110/GĐP-PC09 ngày 17/01/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Tĩnh kết luận: 05 (năm) khối hộp giấy, ngoài có hoa văn nhiều màu sắc và chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối hộp (14,5 x 14,5 x 15)cm, trong mỗi hộp có 36 vật hình trụ bọc giấy liên kết với nhau gửi giám định là pháo có đầy đủ đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ), có khối lượng là: 07kg (Bảy kilogam).
Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, bên trong có gắn thẻ sim 0972.241.692 đến ngày 14/02/2018, xét thấy không liên quan đến hành vi tàng trữ hàng cấm của Phan Thị T và không ảnh hưởng công tác điều tra, truy tố, xét xử nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho Phan Thị T. Số vật chứng còn lại gồm 05 hộp pháo được niêm phong trong một thùng giấy bìa cát tông và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha- Sirius mang biển kiểm soát 75L1-010.56, đã chuyển cho Chi cục thi hành án dân sự huyện H để quản lý theo quy định.
Bản cáo trạng số 19/CT-VKSTH, ngày 15/3/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đã truy tố bị cáo Phan Thị T về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố, đồng thời phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân bị cáo và đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Phan Thị T mức án từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng, giao bị cáo cho chính quyền địa phương xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh quản lý giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha-Sirius, biển kiếm soát 75L1-010.56 mà Phan Thị T sử dụng làm phương tiện phạm tội; Trả lại ½ giá trị chiếc xe mô tô cho anh Vương Khả N. Tịch thu tiêu hủy 05 bánh pháo không còn giá trị sử dụng. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết sô 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị T không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên và thừa nhận quyết định truy tố của Viện kiểm sát là đúng.
Bị cáo Phan Thị T nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét cho hoàn cảnh gia đình của bị cáo hiện tại các con còn nhỏ dại, chồng đang đi làm ăn xa, bị cáo cũng đã nhận thức được sai phạm của mình xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay bị cáo Phan Thị T khai nhận: Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 16/01/2019, Phan Thị T có hành vi tàng trữ trái phép 07kg pháo thì bị lực lượng chức năng phát hiện bắt quả tang. Lời khai nhận tội của của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.
Bị cáo Phan Thị T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS. Vì vậy, khẳng định quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện H đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.
. Xem xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy rằng hành vi tàng trữ trái phép hàng cấm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý một số hàng hóa của Nhà nước, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép pháo nổ là vi phạm pháp luật và tác hại của pháo nổ đối với bản thân và xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện. Chính vì vậy hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử phạt thật nghiêm nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy rằng tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã nhận thức được sai phạm của mình và thật sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, phạm tội do nhận thức pháp luật còn hạn chế, hiện tại hoàn cảnh gia đình có nhiều khó khăn chồng đi làm ăn xa, một mình nuôi 3 con, trong đó có một người con dưới 36 tháng tuổi. Bản thân và gia đình từ trước đến nay luôn chấp hành đầy đủ chủ trương chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước, nhân thân tốt từ trước đến nay chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú ổn định rõ ràng. Xét thấy chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đủ nghiêm.
.Về xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bản thân đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
.Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy rằng bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình có nhiều khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
. Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, bên trong có gắn thẻ sim số điện thoại 0972.241.692, xác định đây không phải là công cụ phương tiện phạm tội nên việc Cơ quan điều tra trả lại cho bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha- Sirius, biển kiếm soát 75L1-010.56 là xe mà bị cáo sử dụng để chở pháo đi cất dấu nên xác định đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Vì thế cần tịch thu nộp Ngân sách nhà nước, tuy nhiên qua kết quả điều tra, xác minh thì chiếc xe máy này là của anh Vương Khả N chồng của bị cáo mua tại một cửa hàng xe máy ở thành phố Huế nhưng chưa sang tên đổi chủ. Xác định đây là tài sản chung của vợ chồng, việc bị cáo tự ý lấy xe đi chở hàng cấm anh N hoàn toàn không biết, vì thế cần tịch thu ½ giá trị của chiếc xe để nộp Ngân sách nhà nước. Theo bản kết luận định giá số 14/KLĐG, ngày 17/4/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha -Sirius, biển kiểm soát 75L1-010.56 trị giá: 7.333.000đ(Bảy triệu ba trăm ba mươi ba ngàn đồng). Nay tịch thu ½ giá trị của chiếc xe tương đương với số tiền 3.666.500đ.
. Kiến nghị: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Phan Thị T còn khai nhận có người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ đã chủ động liên lạc qua điện thoại với T để bán pháo, tuy nhiên T không lưu số điện thoại. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã có Công văn yêu cầu Công ty viễn thông Quân đội Viettell Chi nhánh Hà Tĩnh về việc rút nhật ký cuộc gọi đến số thuê bao 0972.241.692 trong ngày 09/01/2019 và các ngày 12, 13/01/2019 để xác định số điện thoại của người đàn ông đã liên hệ bán pháo cho T, nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiếp tục áp dụng các biện pháp nghiệp vụ để điều tra làm rõ và xử lý khi có căn cứ.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về hình phạt: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS: Tuyên bố bị cáo Phan Thị T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
- Xử phạt bị cáo Phan Thị T 08 (Tám) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phan Thị T cho Uỷ ban nhân dân xã L, huyện H, tỉnh Hà Tĩnh quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.
[2]. Về xử lý vật chứng:
*Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS: Tịch thu ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha- Sirius, màu sơn đỏ-đen, biển kiểm soát 75L1-010.56 (tương đương với số tiền 3.666.500đ(Ba triệu sáu trăm sáu mươi sáu ngàn năm trăm đồng) để nộp ngân sách Nhà nước.
*Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS, trả lại cho anh Vương Khả N ½ giá trị chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha -Sirius, màu sơn đỏ- đen, biển kiểm soát 75L1-010.56 .
Tiếp tục tạm giữ xe mô tô nhãn hiệu Yamaha- Sirius mang biển kiểm soát 75L1-010.56, kèm theo 01 Giấy đăng ký xe mang tên Đoàn Nhật để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.
*Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy:
- 05(Năm) khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối hộp có kích thước (14,5 x 14,5 x 15)cm, bên ngoài có nhiều màu sắc, có in chữ nước ngoài, bên trong có 36 (Ba mươi sáu) vật hình trụ tròn được gắn kết vào nhau (nhưng trừ đi 02(Hai) quả (vật hình trụ) mẫu vật đã gửi giám định nhưng không hoàn lại) được niêm phong dán kín trong một thùng giấy bìa cát tông màu vàng;
- 01(Một) thùng giấy bìa cát tông màu vàng (chính là thùng cát tông dùng để niêm phong 05 khối hộp nói trên)
(Đặc điểm, tình trạng tang vật có tại biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11/3/2019 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện H và Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Hà Tĩnh)
[3]. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử buộc bị cáo Phan Thị T phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo bản án: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Tĩnh; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND tỉnh Hà Tĩnh; - VKSND huyện H; - Công an huyện H; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện H; - Bị cáo; - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; - Văn phòng Tòa án(để công bố) - Lưu HSVA+VT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Khắc Hoàn |