- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn A - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG TỈNH LẠNG SƠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2019/HS-ST Ngày 17-4-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hương Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Văn Nguyên.
Bà Vy Thị Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh – Thư ký Toà án nhân dân
huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn
tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chi Lăng,
tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số: 16/2019/TLST-
HS, ngày 18 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:
22/2019/QĐXXST-HS, ngày 29 tháng 3 năm 2019 và thông báo thay đổi thời
gian xét xử số 396/TB-TA ngày 08 tháng 4 năm 2019 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn A, sinh ngày 20 tháng 5 năm 1993 tại huyện N, tỉnh Bắc
Giang; nơi đăng ký thường trú: Thôn T, xã B, huyện N, tỉnh Bắc Giang; nghề
nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:
Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn P; con bà: Lương Thị H; vợ
Nguyễn Thị T (đã ly hôn); con: Có 01 con, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự:
Không; nhân thân: Chưa bị xử lý trách nhiệm hình sự và xử lý vi phạm hành
chính; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Chi Lăng từ
ngày 28/11/2018 đến ngày 09/01/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Bảo
lĩnh; có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
1. Anh Nguyễn Thanh N; vắng mặt.
2. Anh Kiều Đức C; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 30 phút ngày 28 tháng 11 năm 2018, tại km 62+500 quốc lộ
1A, thôn K, xã L, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, Công an huyện Chi Lăng phối hợp với Trạm Cảnh sát giao thông Tùng Diễn thuộc Phòng Cảnh sát giao thông, Công an tỉnh Lạng Sơn dừng xe ôtô biển kiểm soát 29B - 042.26 do anh Nguyễn Thanh N điều khiển hướng Lạng Sơn - Hà Nội. Kiểm tra, phát hiện và thu giữ của Nguyễn Văn A: 02 bao tải dứa màu xanh, bên trong mỗi bao tải có 01 thùng bìa carton, bên trong mỗi thùng bìa carton có chứa 18 hộp vỏ giấy đa màu sắc, bên trong mỗi hộp có chứa 36 vật hình trụ vỏ giấy được liên kết với nhau thành khối, tổng trọng lượng 51,5kg; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE, màu xám - bạc.
Tại Bản kết luận giám định số 15/KL - PC09 ngày 30/11/2018 của Phòng
Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Lạng Sơn kết luận: Mẫu vật gửi giám định có chứa thuốc pháo, khi đốt đều gây ra tiếng nổ.
Tại Cơ quan điều tra đã làm rõ: Khoảng giữa tháng 9 năm 2018, Nguyễn
Văn A đến thị trấn X, huyện V, tỉnh Lạng Sơn học nghề buôn bán hàng điện tử tại nhà anh Nông Văn Q. Trước ngày 28 tháng 11 năm 2018 khoảng 01 tuần, A lên chợ cửa khẩu D, xã T, huyện G, tỉnh Lạng Sơn chơi thì gặp một người đàn ông, không quen biết, khoảng 30 tuổi, người này tự giới thiệu tên là S (còn gọi là S Long Vương), làm cửu vạn ở cửa khẩu D. Nguyễn Văn A nảy sinh ý định mua pháo mang về nhà ở Bắc Giang để đốt trong dịp tết nguyên đán nên hỏi S có biết chỗ nào bán pháo giàn loại 36 quả, S trả lời khi nào có pháo sẽ gọi điện thoại cho A. Đến ngày 26 tháng 11 năm 2018 sau khi nghe điện thoại của S, A bắt xe ô tô khách lên chợ cửa khẩu D đưa cho S 4.000.000đ để mua pháo. Đến khoảng 09 giờ ngày 28 tháng 11 năm 2018 S gọi điện thoại cho A hẹn lấy 02 thùng pháo tại khu vực đường N, xã Y, huyện G, tỉnh Lạng Sơn. Khoảng 11 giờ cùng ngày, A đón xe ôtô taxi đi lấy pháo, theo sự chỉ dẫn qua điện thoại của S, A đến điểm hẹn thì thấy bên cạnh đường có 02 bao tải dứa màu xanh, A không kiểm tra mà bê 02 bao tải dứa lên hàng ghế phía sau xe, rồi bảo người lái xe đi ra ngã tư Z, huyện V, tỉnh Lạng Sơn để tiếp tục đón xe ôtô chở khách vận chuyển số pháo về nhà ở Bắc Giang. Khoảng 13 giờ cùng ngày, A đón được xe ôtô chở khách 16 chỗ biển kiểm soát 29B - 042.26, do anh Nguyễn Thanh N lái xe và anh Kiều Đức C là phụ xe, A bê một bao tải dứa lên xe ôtô ngồi, anh Kiều Đức C bê 01 bao tải dứa lên phía đằng sau xe. Đến 14 giờ 30 phút cùng ngày khi xe ôtô biển kiểm soát 29B - 042.26 đi đến km 62 + 500 quốc lộ 1A thuộc địa
phận thôn K, xã L, huyện C, tỉnh Lang Sơn thì bị Công an huyện Chi Lăng bắt
quả tang cùng tang vật.
Cáo trạng số: 21/CT-VKSCL ngày 15 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn A về
tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 Bộ luật
Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn A đã thừa nhận toàn bộ hành vi vận
chuyển pháo nổ như đã khai tại Cơ quan điều tra, đối với người đàn ông tên S
mua pháo hộ, bị cáo không quen biết, người lái xe taxi và xe ô tô khách không
biết bị cáo vận chuyển pháo nổ. Chiếc điện thoại di động hiện đang bị tạm giữ,
bị cáo đã sử dụng để liên lạc mua pháo nên không có yêu cầu gì.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên Cáo trạng
truy tố và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án, đồng thời đánh giá tính
chất, động cơ, mục đích, tác hại của hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, đánh giá
về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng áp dụng đối với bị cáo và đề
nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội Vận chuyển
hàng cấm; Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều
50, 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm
2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều
65 của Bộ luật Hình sự về án treo, xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03
năm tù, cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định, không đề
nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy 02 bao tải dứa
màu xanh; tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động.
Phần tranh luận: Bị cáo Nguyễn Văn A không có ý kiến tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong
quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại
về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết
định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều hợp
pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn A đã khai rõ toàn bộ hành vi phạm tội
như tại cơ quan điều tra, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ
có trong hồ sơ, cụ thể: Ngày 28 tháng 11 năm 2018, Nguyễn Văn A có hành vi
vận chuyển 18 khối hộp pháo nổ, loại 36 quả/hộp có tổng trọng lượng 51,5 kg từ xã Y, huyện G, tỉnh Lạng Sơn về Bắc Giang trên xe ô tô khách biển kiểm soát 29B-042.26 với mục đích sử dụng đốt trong dịp tết. Khi đi đến km 62+500 quốc lộ 1A, thuộc địa phận thôn K, xã L, huyện C, tỉnh Lạng Sơn thì bị Công an huyện Chi Lăng kiểm tra thu giữ toàn bộ số pháo nổ. Như vậy, đã có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội Vận chuyển hàng cấm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 191 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn A là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm
đến chế độ quản lý của Nhà nước về kinh tế. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản cấm sản xuất, vận chuyển, buôn bán và đốt các loại pháo. Bị cáo Nguyễn Văn A là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi vận chuyển pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích đem pháo về để đốt nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự và an toàn xã hội.
[4] Để cá thể hoá hình phạt, ngoài việc xem xét tính chất, hành vi phạm tội
nêu trên thì còn phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ để quyết định hình phạt. Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Văn A là người có nhân nhân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không có.
[5] Từ những phân tích trên, xét thấy bị cáo Nguyễn Văn A là người có
nhân thân tốt, có hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại cùng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách của Đảng và pháp luật tại địa phương, trong thời gian tại ngoại chấp hành tốt các quy định, việc này đã được chính quyền xã nơi bị cáo cư trú xác nhận, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo nên Hội đồng xét xử thấy không cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù vì bị cáo có khả năng tự cải tạo tại địa phương, việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo, đồng thời cũng thể hiện được sự khoan hồng của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn A vì không có khả năng thi hành, điều này phù hợp với kết quả xác minh của Cơ quan điều tra.
[6] Cáo trạng số 21/CT-VKSCL ngày 15 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm
sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Nguyễn Văn A theo tội danh và điều khoản trong Bộ luật Hình sự như trên là có căn cứ, đúng người,
đúng tội, đúng quy định pháp luật. Mức hình phạt của Kiểm sát viên thực hành
quyền công tố tại phiên tòa đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo Nguyễn
Văn A là có căn cứ.
[7] Đối với người đàn ông tên S, còn gọi là S Long Vương làm cửu vạn ở
cửa khẩu D đã bán pháo cho A ngày 28/11/2018. Công an huyện Chi Lăng đã
tiến hành xác minh tại khu vực cửa khẩu D, xã T, huyện G, tỉnh Lạng Sơn nhưng
không có đối tượng nào tên S, làm cửa vạn nên sẽ tiếp tục điều tra xác minh, xử
lý sau.
[8] Đối với lái xe Nguyễn Thanh N và phụ xe Kiều Đức C không biết bên
trong 02 bao tải dứa màu xanh của A là pháo nên không xem xét xử lý.
[9] Đối với người lái xe ôtô taxi đã vận chuyển pháo cho A, do không có
thông tin cụ thể nên không thể điều tra, xác minh.
[10] Đối với Nông Văn Q, người cho A ở tại nhà để học nghề buôn bán
hàng điện tử. Q không biết A mua và vận chuyển pháo, do đó không có cơ sở để
xử lý.
[11] Về vật chứng: Cơ quan điều tra Công an huyện Chi Lăng đã tiến hành
tiêu hủy toàn bộ số pháo nổ còn lại sau giám định và 02 thùng bìa carton là có
căn cứ. Đối với 02 bao tải dứa màu xanh, xét thấy có liên quan đến hành vi
phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện
thoại di động hiệu IPHONE màu xám – bạc, bị cáo sử dụng để liên lạc mua pháo
nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
[12] Về án phí: Do bị cáo Nguyễn Văn A bị kết án nên phải chịu án phí
hình sự theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 191; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47; 50;
các khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban
thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án
phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn A phạm tội Vận chuyển hàng cấm.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn A 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án
treo, thời gian thử thách 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng, thời hạn tính từ ngày
tuyên án sơ thẩm ngày 17 tháng 4 năm 2019. Giao bị cáo Nguyễn Văn A cho Ủy
ban nhân dân xã B, huyện N, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian
thử thách.
Trường hợp bị cáo Nguyễn Văn A thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo
quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 02 bao tải dứa màu xanh; tịch thu và
nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu IPHONE màu xám – bạc (theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Công an huyện Chi Lăng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Chi Lăng ngày 18 tháng 3 năm 2019).
Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn
đồng) án phí sơ thẩm hình sự để nộp ngân sách nhà nước.
Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn A có quyền kháng cáo trong thời
hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lạng Sơn; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng; - Cơ quan CSĐT Công an huyện.Chi Lăng; - Cơ quan THAHS Công an huyện Chi Lăng; - Chi cục thi hành án huyện Chi Lăng; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã Ký) Trương Thị Hương Giang |