vanban.org

Bản án 23/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị N đối với ông Huỳnh Văn H.

Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Lưu Thị N và ông Huỳnh Văn H là vợ chồng. Về con chung: Bà Lưu Thị N và ông Huỳnh Văn H xác định các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị N đối với ông Huỳnh Văn H.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG MỸ
TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 22 - 01 - 2019
V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Châu Minh Tiếp

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Văn Chung

2. Ông Nguyễn Quốc Khương

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Võ Ngân Tâm là Thư ký Toà án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 22 tháng 01 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 236/2018/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 12 năm 2018 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lưu Thị N, sinh năm: 1971

Địa chỉ: Ấp 9, xã VA, huyện L, tỉnh H (có mặt).

2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn H, sinh năm: 1978.

Địa chỉ: Ấp 9, xã VA, huyện L, tỉnh H (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lưu Thị N trình bày:

Bà và ông Huỳnh Văn H do quen biết và tự nguyện tổ chức lễ cưới vào năm 1988 đến nay không đăng ký kết hôn. Bà N và ông H sống chung hạnh phúc đến năm 2008 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi, ông H không lo cho gia đình, rượu chè hay đánh đập vợ con và do bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, vợ chồng nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà N và ông H đã sống ly thân từ năm 2008 đến nay. Nay bà Lưu Thị N yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lưu Thị N yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Huỳnh Văn H.

Về con chung: Quá trình chung sống có 03 con chung là cháu Huỳnh Vũ B (giới tính: nam) sinh năm 1992, cháu Huỳnh Vũ L (giới tính: nam) sinh năm 1994 và cháu Huỳnh Thị Cẩm T (giới tính: nữ) sinh năm 1998. Các con đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Có nhưng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa bà Lưu Thị N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện trước đây.

Tại bản tự khai ngày 09/01/2019 bị đơn ông Huỳnh Văn H trình bày:

Ông H thống nhất với lời trình bày của bà N về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống vợ chồng dẫn đến cuộc sống chung không hạnh phúc nên đã sống ly thân từ năm 2008 đến nay. Ông H nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với bà N nên đồng ý ly hôn. Về con chung: Quá trình chung sống có 03 con chung là cháu Huỳnh Vũ B (giới tính: nam) sinh năm 1992, cháu Huỳnh Vũ L (giới tính: nam) sinh năm 1994 và cháu Huỳnh Thị Cẩm T (giới tính: nữ) sinh năm 1998. Về tài sản chung tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đồng thời, ông H có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về ly hôn”. Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt nên áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Đối với quan hệ hôn nhân, bà N và ông H tự nguyện tổ chức lễ cưới vào năm 1988, chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống bà N và ông H phát sinh mâu thuẫn. Bà N cho rằng mâu thuẫn của bà với ông H không thể hàn gắn, bà N không còn tình cảm đối với ông H và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên yêu cầu Tòa án không công nhận ông bà là vợ chồng. Bà N và ông H đã có khoảng thời gian sống ly thân với nhau nhưng trong thời gian này ông bà không tìm cách hàn gắn lại cùng xây dựng gia đình mà làm cho mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó yêu cầu không công nhận ông bà là vợ chồng của bà N là đúng theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “trường hợp không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu xin ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình”. Từ căn cứ trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà N, không công nhận bà Lưu Thị N và ông Huỳnh Văn H là vợ chồng.

Về con chung: Bà Lưu Thị N và ông Huỳnh Văn H xác định các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Bà Lưu Thị N và ông Huỳnh Văn H xác định có nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Bà Lưu Thị N và ông Huỳnh Văn H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm buộc đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 9, 14, 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lưu Thị N đối với ông Huỳnh Văn H.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận bà Lưu Thị N và ông Huỳnh Văn H là vợ chồng.

2. Về con chung: Bà Lưu Thị N và ông Huỳnh Văn H xác định các con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung: Bà Lưu Thị N và ông Huỳnh Văn H xác định có nhưng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về nợ chung: Bà Lưu Thị N và ông Huỳnh Văn H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Lưu Thị N phải chịu là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí bà Nghĩ đã nộp theo biên lai thu số 0019532 ngày 24/12/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện L, tỉnh H thành án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (22/01/2019). Riêng bị đơn được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân xã nơi bị đơn cư trú.

Cỡ chữ