vanban.org

Bản án 23/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về…

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vương Thị H. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Thị H được ly hôn với ông Trần Minh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
  • Tòa quyết gì? điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về…
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN ĐỀ
T NH S TR N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 30-9-2019
V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚ ỘN HÒA XÃ HỘI HỦ N HĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN ĐỀ, T NH S TR N

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chiêm Ngọc Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Văn Linh.

2/ Ông Nguyễn Văn Hành.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thị Qual - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trần

Đề, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng tham

gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hướng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30/9/2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Đề, tỉnh Sóc

Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 50/2019/TLST-HNGĐ ngày 28/3/2019 về tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/9/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Vương Thị H, sinh năm 1993 (có mặt)

Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Ông Trần Minh T, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã V, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUN VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/02/2019 cũng như trong quá trình giải

quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Vương Thị H trình bày: Vào năm 2014, bà Vương Thị H và ông Trần Minh T được sự chấp nhận của hai bên gia đình đã tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Văn, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 48, quyển số 01/2014, cấp ngày 18-02-2014. Sau khi kết hôn vợ chồng bà H, ông T cùng nhau sống tại ấp C, xã V, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng. Thời gian đầu, vợ chồng bà H, ông T chung với nhau hạnh phúc nhưng đến năm 2016 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân là do bất đồng ý kiến trong cuộc sống, nên vợ chồng thường hay cự cãi nhau, khi đó ông T đánh bà H trước mặt cha mẹ ruột của bà H. Đến tháng 10-2017, bà H đã về nhà cha mẹ ruột sống cho đến nay. Bà H và ông T đã ly thân với nhau từ tháng 10-2017 đến nay. Hiện bà H nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông T nên yêu cầu được ly hôn.

Trong quá trình chung sống, vợ chồng bà H, ông T có một người con chung

là Trần Thị Rec Sa M, sinh ngày 14-4-2014, hiện cháu M sống chung với bà H. Bà H yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H xác định bà và ông T không có tài sản

chung và không có nợ chung, nên không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung với ông T.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố

tụng cho ông Trần Minh T, nhưng ông T không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của bà H, đồng thời ông T cũng không đến tham gia phiên hòa giải cũng như tham gia phiên tòa.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề xác định:

Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự. Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật, tuy nhiên sự chấp hành pháp luật của bị đơn chưa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vương Thị H

NHẬN ĐỊNH ỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên

tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tòa án đã tống đạt hợp lệ Giấy triệu tập xét xử đến lần thứ hai cho ông

Trần Minh T, nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt ông T.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Vương Thị H, nhận thấy bà H và ông T sau

một thời gian tìm hiểu, tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2014, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn được Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Sóc Trăng cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 48, quyển số 01/2014, cấp ngày 18-02-2014. Quan hệ hôn nhân của bà H và ông T không vi phạm các điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Nhưng sau một thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do bất đồng ý kiến, dẫn đến cãi vã, ông T có đánh bà H. Hiện bà H nhận thấy không còn tình cảm vợ chồng với ông T nên có nguyện vọng ly hôn. Bà H và ông T đã không còn chung sống từ tháng 10/2017 đến nay. Hội đồng xét xử đã phân tích động viên bà H suy nghĩ lại, hàn gắn tình cảm vợ chồng với ông T, nhưng bà H vẫn cương quyết xin được ly hôn, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa các bên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà H được ly hôn với ông T.

[3 Về con chung: Thời gian chung sống bà H và ông T có một người con

chung là Trần Thị Rec Sa M, sinh ngày 14-4-2014, hiện đang chung sống với bà H. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung đến khi cháu M đủ 18 tuổi, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của bà H, giao cháu M cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Bà H hiện có việc làm, thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện nuôi con nên việc bà H không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4 Về tài sản chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết,

nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5 Về nợ chung: Bà H trình bày không có, không yêu cầu giải quyết, nên

Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[6] Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trần Đề là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Án phí sơ thẩm: Bà H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn theo quy

định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Khoản 3 Điều 36,

điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vương Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Thị H được ly hôn với ông Trần Minh T.

- Về con chung: Giao con chung là Trần Thị Rec Sa M, sinh ngày 14-4-2014

cho bà Vương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Ông Trần Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông Trần Minh T được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không

ai được quyền cản trở. Ông Trần Minh T không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Trần Thị Rec Sa M của bà Vương Thị H.

- Về tài sản chung: Bà Vương Thị H trình bày không có, không yêu cầu giải

quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

- Về nợ chung: Bà Vương Thị H trình bày không có, không yêu cầu giải

quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

2/ Về án phí sơ thẩm: Bà Vương Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm

nghìn đồng) án phí sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền ứng án phí bà H đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai số 0002991, ngày 26/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà H đã thực hiện xong nghĩa vụ nộp án phí.

Ông Trần Minh T không phải chịu án phí sơ thẩm.

3/ Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15

ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ