- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Mơ - Nguyễn Đặng Thế Bảo"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Đặng Thế B.
- Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH —————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2019/HNGĐ-ST Ngày 28-5-2019 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Phương;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Trần Phúc;
2. Ông Hoàng Đình Ngân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Nguyên Phượng - Là Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huệ Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2019/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2019, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 15/2019/QĐST-DS ngày 21 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị M, sinh năm 1995; “Vắng mặt”
Địa chỉ: Ấp L, xã L1, huyện B, tỉnh Tây Ninh.
- Bị đơn: Anh Nguyễn Đặng Thế B, sinh năm 1994; “Vắng mặt”
Địa chỉ: Ấp L2, xã L3, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 12-02-2019 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị M trình bày:
Chị và anh Nguyễn Đặng Thế B chung sống với nhau như vợ chồng từ tháng 01-2017, nhưng đến tháng 07-2017 mới đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Vĩnh, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh B ghen tuông vô cớ, thường xuyên uống rượu về đánh đập chị. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 12-2018 cho đến nay. Thời gian đầu, khi chị về nhà cha mẹ ruột ở Bến Cầu sinh sống, anh B còn đến nhà đập phá đồ đạc và dùng những lời lẽ khó nghe để xúc phạm chị và gia đình, sau đó giữa chị và anh B không còn liên lạc với nhau nữa. Thời gian gần đây, chị được biết anh B có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu ly hôn anh B.
Về nuôi con chung: Vợ chồng chị có 01 người con chung tên Nguyễn Đức A, sinh ngày 19-12-2017. Chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản chung: Chị và anh B không có tài sản chung nên không yêu cầu giải quyết.
* Đối với anh Nguyễn Đặng Thế B đã được tống đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vắng mặt nên không có lời khai.
Qua xác minh, ông Nguyễn Văn Tr, cha ruột của anh Nguyễn Đặng Thế B cung cấp như sau: Chị M và anh B kết hôn năm 2017. Sau khi kết hôn, chị M, anh B sống chung với gia đình ông. Vợ chồng chung sống đến khoảng cuối năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn. Khoảng tháng 01-2019, chị M bỏ về nhà mẹ ruột ở huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh sống, nên vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Vợ chồng anh B có 01 con chung tên Nguyễn Đức A, hiện đang sống với chị M.
Đại diện VKSND huyện Châu Thành phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 19, 56, 81 và 82 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M, xử cho chị M được ly hôn anh B. Về nuôi con chung: Giao cháu Anh cho chị M trực tiếp nuôi, anh B không phải cấp dưỡng nuôi con do chị M không yêu cầu.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, chị Nguyễn Thị M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn, anh Nguyễn Đặng Thế B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị M và anh B.
Về nội dung vụ án: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành nhận định:
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M và anh Nguyễn Đặng Thế B tổ chức đám cưới vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Vĩnh, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh vào ngày 12-7-2017 (giấy chứng nhận kết hôn số: 0027/2017) nên hôn nhân của chị M và anh B là hôn nhân hợp pháp kể từ ngày 12-7-2017. Sau một thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Anh B đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không có mặt, từ chối cung cấp lời khai, thể hiện thái độ thờ ơ, bỏ mặc. Đối với chị M xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng nên không thể tiếp tục sống chung với anh B. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 56 Luât hôn nhân và gia đình Tòa án chấp nhận cho chị M được ly hôn với anh B.
Về nuôi con chung: Chị M và anh B có 01 con chung là Nguyễn Đức A, sinh ngày 19-12-2017. Chị M có nghề nghiệp, thu nhập ổn định. Mặt khác, cháu A dưới 36 tháng tuổi nên việc chị M yêu cầu trực tiếp nuôi con chung là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Chị M không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về chia tài sản chung: Chị M xác định vợ chồng chị không có tài sản chung, chị không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 19, Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị M được ly hôn với anh Nguyễn Đặng Thế B.
2. Về nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị M trực tiếp nuôi con chung Nguyễn Đức A, sinh ngày 19-12-2017. Anh Nguyễn Đặng Thế B có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị M đã nộp theo biên lai thu số 0019446 ngày 15 tháng 02 năm 2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Châu Thành; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Phƣơng |