vanban.org

Bản án 23/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Không công nhận vợ chồng"
  • Căn cứ chính? Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

HUYEÄN BAÉC BÌNH

Ñoäc laäp – Töï do – Haïnh phuùc

TÆNH BÌNH THUAÄN

Bản án số: 23/2019/HNGĐ-ST.

Ngày: 06-8-2019

V/v: Tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH

TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán– Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Huyền

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hạnh

2. Bà Nguyễn Thị Phƣơng Dung

-Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hoàng Bảo Vân– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Khánh Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 141/2019/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2019 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 15/7/2019 đối với các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Phan Thị Hương Đ, sinh năm 1973.

2. Bị đơn: Anh Võ Văn H, sinh năm 1968.

Cùng địa chỉ: Số 33 đường VTS, thôn HX, xã HN, huyện BB, tỉnh Bình Thuận.

Nguyên đơn và bị đơn có mặt.

NOÄI DUNG VUÏ AÙN:

*Theo đơn khởi kiện ly hôn, lời khai của nguyên đơn và tại phiên tòa hôm nay, chị Phan Thị Hương Đ trình bày:

1. Về hôn nhân: Chò Phan Thị Hương Đ và anh Võ Văn H tự nguyện chung soáng vôùi nhau từ naêm 1990, không ñaêng kyù keát hoân, chỉ có gia đình hai bên gặp mặt và tổ chức đám cưới. Chị Đ và anh H có 05 (năm) con chung là Võ Thị Mỹ L, Võ Hoàng V, Võ Thị Kim L, Võ Thành N và Võ Tam Đ, hiện nay đều đã trưởng thành. Trong thời gian chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cuộc sống chung không còn hạnh phúc do anh H có mối quan hệ bên ngoài với phụ nữ khác và thường xuyên đánh đập vợ. Từ năm 2016 đến nay, chị Đ và anh H không còn quan tâm đến nhau, tình cảm vợ chồng đã chấm dứt nên mỗi người đều có cuộc sống riêng. Nay, chị Đ thấy không thể hàn gắn lại được tình cảm vợ chồng nên đề nghị giải quyết cho chị ly hôn với anh Võ Văn H. Về tài sản chung và nợ chung, chị Đ không yêu cầu giải quyết.

2. Đối với bị đơn- anh Võ Văn H trình bày: Anh H thừa nhận lời trình bày của chị Đ là đúng. Anh H xác định không còn tình cảm vợ chồng với chị Đ nên Đ ý ly hôn. Về tài sản chung và nợ chung, anh H không yêu cầu giải quyết.

3. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội Đ xét xử và Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án đúng quy định của pháp luật. Về quan điểm giải quyết vụ án: Chị Phan Thị Hương Đ và anh Võ Văn H sống chung, không đăng ký kết hôn nên theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thì chị Đ và anh H không phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng, do đó không công nhận chị Phan Thị Hương Đ và anh Võ Văn H là vợ chồng. Về con chung đã trưởng thành, về tài sản chung và nợ chung không yêu cầu giải quyết nên đề nghị không xem xét giải quyết.

NHAÄN ÑÒNH CUÛA TOØA AÙN:

* Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng, Hội Đ xét xử nhận thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Phan Thị Hương Đ có đơn đề nghị giải quyết về hôn nhân giữa chị Phan Thị Hương Đ và anh Võ Văn H, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, Khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình.

[2] Về nội dung: Chị Phan Thị Hương Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Võ Văn H và anh Võ Văn H Đ ý với yêu cầu của chị Đ. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội Đ xét xử nhận thấy: Được sự cho phép của hai bên gia đình, chị Đ và anh H tự nguyện về chung sống với nhau từ năm 1990, không đăng ký kết hôn. Chị Đ và anh H đều thừa nhận trong thời gian chung sống, xảy ra nhiều mâu thuẫn do anh H có mối quan hệ với người phụ nữ khác nên cuộc sống chung của hai người không hạnh phúc. Từ năm 2016 đến nay, chị Đ và anh H đều có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau. Xét thấy tình cảm giữa chị Đ và anh H không còn, mục đích của cuộc sống chung không đạt được nên chị Đ yêu cầu ly hôn với anh H là có căn cứ. Do chị Đ và anh H có đầy đủ điều kiện để đi đăng ký kết hôn nhưng đến nay vẫn chưa thực hiện việc đăng ký kết hôn nên theo quy định tại khoản 1 Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000: “ Nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ chồng” (nay là khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014), vì vậy không công nhận chị Phan Thị Hương Đ và anh Võ Văn H là vợ chồng.

[3] Về con chung đã trưởng thành, về tài sản chung và nợ chung chị Phan Thị Hương Đ và anh Võ Văn H đều không yêu cầu giải quyết nên Hội Đ xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Phan Thị Hương Đ phải nộp 300.000 Đ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì caùc leõ treân,

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; Điểm a, Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000; Khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyeân xöû:

1.Về hôn nhân: Không công nhận chị Phan Thị Hương Đ và anh Võ Văn H là vợ chồng.

2. Về án phí: Chị Phan Thị Hương Đ phải nộp 300.000 Đ (Ba trăm nghìn Đ) án phí DSST, được khấu trừ vào số tiền 300.000 Đ (Ba trăm nghìn Đ) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0016261 ngày 06/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình.

3. Quyền kháng cáo: Chị Phan Thị Hương Đ và anh Võ Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/8/2019).

Cỡ chữ