- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên bị mất tích — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn giữa anh D và chị C"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phùng Văn D và chị Vũ Thị C.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/ 2019/HNGĐ-ST Ngày 07-5-2019 V/v: Ly hôn giữa Anh D và chị C. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG HÀ, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyên Thị Chuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Bình
2. Bà Vũ Thị Khánh Hòa
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Lân - Kiểm sát viên.
Ngày 07-5-2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2019/TLST - HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2019 về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2019 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Phùng Văn D, sinh năm 1989 Địa chỉ: Thôn K, xã D, huyện H, tỉnh T; có mặt
Bị đơn: Chị Vũ Thị C, sinh năm 1992 Địa chỉ: Thôn K, xã D, huyện H, tỉnh T, (chị C mất tích, vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh Phùng Văn D trình bày: Anh kết hôn với chị Vũ Thị C do đôi bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở Uỷ ban nhân dân (Viết tắt là UBND) xã D, huyện H, tỉnh T vào tháng 02-2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp nhau, quan điểm sống bất đồng nên trong cuộc sống vợ chồng xảy ra va chạm cãi nhau, đã có lần chị C bỏ về nhà mẹ đẻ ở thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh T sinh sống, sau đó anh đến tìm để vợ chồng về đoàn tụ nhưng được một thời gian ngắn thì vợ chồng lại xảy ra mâu thuẫn. Tháng 4-2014 thì chị C đã tự ý bỏ nhà và đi khỏi địa phương (Thôn K, xã D, huyện H, tỉnh T) đến nay không có tin tức gì của chị C. Theo yêu cầu của anh, ngày 05-10-2018, Tòa án nhân dân (viết tắt TAND) huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã ra quyết định tuyên bố chị Vũ Thị C mất tích. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng giữa anh và chị C không còn, anh đề nghị TAND huyện Hưng Hà giải quyết cho anh được ly hôn chị C. Anh và chị C có 01 con chung là Phùng Thị Thảo N, sinh ngày 03-9-2013. Từ khi chị C bỏ đi, con chung do anh trực tiếp nuôi dưỡng, nay anh xin được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu chị C góp cấp dưỡng nuôi con. Anh và chị C không có tài sản chung, không vay nợ gì ai.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tiến hành thụ lý, thu thập chứng cứ và xét xử vụ án theo đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng mà pháp luật quy định. Nguyên đơn là anh D đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; do bị đơn là chị C mất tích nên đề nghị Hội đồng xét xử xử vắng mặt chị C.
- Về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử: Về hôn nhân: xử cho anh D được ly hôn chị C; về nuôi con chung: Giao cho anh D trực tiếp nuôi con chung là Phùng Thị Thảo N, sinh ngày 03-9-2013, chị C không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng anh D; về chia tài sản: chưa xem xét giải quyết. Anh D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Hưng Hà nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Phùng Văn D khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn và nuôi con chung với chị Vũ Thị C. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”. Anh Phùng Văn D khởi kiện yêu cầu được ly hôn chị Vũ Thị C, nơi cư trú cuối cùng của chị C trước khi mất tích là Thôn K, xã D, huyện H, tỉnh T. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình.
Về hôn nhân: Anh Phùng Văn D và chị Vũ Thị C kết hôn với nhau do đôi bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại trụ sở UBND xã D, huyện H, tỉnh T vào tháng 02 năm 2012, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, chị C đã bỏ nhà và đi khỏi địa phương từ tháng 4 năm 2014. Theo yêu cầu của anh D, tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 02/2018/QĐST-VDS ngày 05-10-2018 của TAND huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình đã tuyên bố chị Vũ Thị C mất tích. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành xác minh, được biết chị C vẫn không có mặt tại địa phương, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xét thấy chị C đã mất tích, cần xử cho ly hôn giữa anh D và chị C là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về nuôi con chung: Anh D và chị C có một con chung là Phùng Thị Thảo N, sinh ngày 03-9-2013. Từ khi chị C bỏ đi, anh D là người trực tiếp nuôi con, vẫn đảm bảo cuộc sống tốt về mọi mặt của con, hiện nay chị C mất tích nên cần giao con chung cho anh D tiếp tục nuôi dưỡng và chấp nhận sự tự nguyện của anh D không yêu cầu chị C thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về chia tài sản: Anh D trình bày, anh và chị C không có tài sản chung, nhưng vì hiện nay chị C mất tích nên không có căn cứ để giải quyết quan hệ tài sản chung của anh D và chị C.
Về án phí: Anh D phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 68 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51 khoản 2 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. .
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phùng Văn D và chị Vũ Thị C.
2. Về nuôi con chung: Giao cho anh Phùng Văn D trực tiếp nuôi con chung là Phùng Thị Thảo N, sinh ngày 03-9-2013, chị C không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cùng anh D. Chị C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về chia tài sản: Không xem xét giải quyết.
4. Về án phí: Anh Phùng Văn D phải chịu 300.000đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh D đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0005378 ngày 20-02-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hưng Hà (anh D đã nộp đủ tiền án phí).
5. Anh Phùng Văn D có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; chị Vũ Thị C vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSND cùng cấp; - Chi cục THADS cùng cấp; - Các đương sự; - UBND xã D; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Thị Chuyên |