vanban.org

Bản án 23/2019/HNGĐ-ST — Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Thay đổi người trực tiếp nuôi con tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 195/2018/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng như sau: Giao cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi con tên Nguyễn…

Việc nuôi con được thực hiện cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về án phí: Anh Nguyễn Đức H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại chị Hoàng Thị T số … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Thay đổi người trực tiếp nuôi con tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 195/2018/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng như sau: Giao cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi con tên Nguyễn…
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN
THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2019/HNGĐ-ST
Ngày 06 - 3 - 2019
V/v tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Anh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đồng Xuân Dũng.

2. Ông Nguyễn Văn Đông.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Lan Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 830/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 12 năm 2018 về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị T; địa chỉ: Xóm 15, Hà Phú, xã Hòa Bình, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; có mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đức H; địa chỉ: Thôn T, xã ĐT, huyện NT, thành phố Hải Phòng; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 195/2018/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng đã công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Đức H. Về con chung anh Nguyễn Đức H trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Thị HA, sinh ngày 11 tháng 02 năm 2011. Về cấp dưỡng cho con chung do chị Hoàng Thị T và anh Nguyễn Đức H tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Đức H là người trực tiếp nuôi con theo như quyết định của Tòa án, con chung phát triển bình thường. Tuy nhiên, trước đó anh Nguyễn Đức H sống với người khác như vợ chồng và sau khi ly hôn theo chị Hoàng Thị T được con nói lại là người phụ nữ sống chung như vợ chồng với anh Nguyễn Đức H đối xử không tốt với con và anh Nguyễn Đức H cũng không cho chị Hoàng Thị T thăm nom con mà thường xuyên cản trở. Do vậy chị Hoàng Thị T đề nghị được trực tiếp nuôi con. Về cấp dưỡng cho con chị Hoàng Thị T không yêu cầu giải quyết.

Ý kiến và đề nghị của bị đơn: Ngày 02 tháng 3 năm 2018 anh Nguyễn Đức H và chị Hoàng Thị T được Tòa án giải quyết cho ly hôn và giải quyết cho nuôi con theo như trình bày của chị Hoàng Thị T là đúng. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Đức H là người trực tiếp nuôi con. Từ đó đến nay việc nuôi con của anh Nguyễn Đức H ổn định về mọi mặt, con phát triển bình thường. Anh Nguyễn Đức H thừa nhận trước đây có sống như vợ chồng với người phụ nữ khác, nhưng hiện nay chưa kết hôn. Anh Nguyễn Đức H có đủ điều kiện và khả năng nuôi dạy con, tình cảm cha con rất tốt, không có ai đánh đập, hành hạ con. Cuối năm 2018 đôi khi việc thăm nom con của chị Hoàng Thị T có làm ảnh hưởng đến việc học của con nên có lúc anh Nguyễn Đức H không muốn cho chị Hoàng Thị T thăm nom con. Nay chị Hoàng Thị T đề nghị được trực tiếp nuôi con, anh Nguyễn Đức H không đồng ý.

Ý kiến của Viện kiểm sát: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; đương sự đã chấp hành đúng quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Về nội dung vụ án: Các tài liệu chứng cứ cũng như trình bày của đương sự thể hiện cả hai bên đều có điều kiện, khả năng nuôi con như nhau và con chung có nguyện vọng được ở với mẹ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội giải quyết chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

Các tài liệu, chứng cứ, tình tiết của vụ án: Nguyên đơn cung cấp: Bản sao Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự, bản sao giấy khai sinh của con, bản sao sổ hộ khẩu, bản sao hợp đồng lao động, bảng lương, đơn đề nghị, phiếu lương, bản tự khai. Bị đơn cung cấp: Giấy xác nhận lương, đơn đề nghị xác nhận tài sản, bản tự khai. Tài liệu Tòa án thu thập được: Các biên bản xác minh, biên bản làm việc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn, căn cứ Điều 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Về yêu cầu của nguyên đơn: Các đương sự thừa nhận có con chung tên Nguyễn Thị HA, sinh ngày 11 tháng 02 năm 2011, hiện nay anh Nguyễn Đức H đang trực tiếp nuôi con theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 195/2018/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Các tài liệu chứng cứ do đương sự cung cấp thể hiện cả hai đương sự đều có thu nhập, chỗ ở như nhau, điều kiện, khả năng nuôi con như nhau. Tuy nhiên, cháu Nguyễn Thị HA có mong muốn được ở với mẹ. Do vậy, chấp nhận yêu cầu của chị Hoàng Thị T về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, giao con chị Hoàng Thị T nuôi là phù hợp với các Điều 71, 81, 84 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung: Không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 71, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:

1. Thay đổi người trực tiếp nuôi con tại Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 195/2018/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng như sau: Giao cho chị Hoàng Thị T trực tiếp nuôi con tên Nguyễn Thị HA, sinh ngày 11 tháng 02 năm 2011.

Việc nuôi con được thực hiện cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2. Về án phí: Anh Nguyễn Đức H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại chị Hoàng Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0000132 ngày 10 tháng 12 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ