vanban.org

Bản án 23/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 29/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Nguyên S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[1] Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trần Nguyên S 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng, thời hạn chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Nguyên S phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Nguyên S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN EA SÚP
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2018/HS-ST
Ngày: 29/6/2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA SÚP

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Sâm.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Bích Loan; Bà Đặng Thị Thanh Nhung.

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Xiêm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Phong - Kiểm sát viên.

Ngày 29/6/2018, tại trụ sở TAND huyện Ea Súp, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2018/TLST - HS ngày 12/6/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2018/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Trần Nguyên S; sinh năm 1979, tại tỉnh Thái Bình.

Nơi cư trú: Thôn A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đăk Lăk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Nguyên C, sinh năm 1951 và bà Trần Thị N, sinh năm 1956, hiện cả hai đang cư trú tại xã V, huyện V, tỉnh Thái Bình; Bị cáo là con thứ nhất trong gia đình có năm người con; Bị cáo có vợ Phạm Thị T, sinh năm 1984, có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2011. Hiện đang cư trú tại thôn A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

Tiền án; tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 14/3/2018 đến ngày 20/3/2018, bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.

- Người bị hại:

1. Anh Triệu Chồng P, sinh năm 1982, vắng mặt.

2. Chị Triệu Mùi H, sinh năm 1987, vắng mặt

Cùng trú tại: Thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Phạm Thị T, sinh năm 1984, có mặt.

Địa chỉ: Thôn A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

- Người làm chứng: Anh Lý Kiềm S, sinh năm 1989, vắng mặt.

Địa chỉ: Tiểu khu M, thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 14 tháng 3 năm 2018, Trần Nguyên S một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 47P1-184.55 mang theo một đoạn sắt đi từ nhà mình đến thôn B, xã C, huyện E, mục đích phát hiện gia đình nào sơ hở thì đột nhập vào trộm cắp tài sản.

Khi đi qua nhà anh Triệu Chồng P thấy không có người ở nhà, trước nhà anh P có một chiếc xe mô tô dựng, trên xe có cắm một chùm chìa khóa. Nghĩ rằng đây là chùm chìa khóa để mở cửa nhà anh P, nên S đi vào lấy chùm chìa khóa và mở được cửa rồi S đi vào trong nhà lấy trộm một chiếc máy bơm loại nén khí, nhãn hiệu DRAGONCT26, 01 chiếc cưa xăng hiệu STIHL, 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Neos và 01 chiếc bình ắc quy hiệu Đồng Nai (Loại 12v-30Ah). Sau khi lấy trộm được tài sản S mang tài sản bỏ lên xe mô tô của mình để đi về thì bị mọi người phát hiện và bắt giữ.

Tại bản kết luận về việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 03/KL-HĐĐG ngày 15/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Ea Súp kết luận: 01 chiếc máy bơm loại nén khí nhãn hiệu DRAGONCT26, trị giá 550.000 đ, 01 chiếc cưa xăng nhãn hiệu STIHL, trị giá 2.500.000 đ, 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Neos, trị giá 150.000 đ và 01 chiếc bình ắc quy hiệu Đồng Nai (Loại 12v-30Ah), trị giá 160.000 đ. Tổng giá trị 3.360.000 đ.

Ngày 18/5/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Triệu Chồng P là người quản lý hợp pháp một chiếc máy bơm loại nén khí, nhãn hiệu DRAGONCT26, 01 chiếc cưa xăng hiệu STIHL, 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Neos và 01 chiếc bình ắc quy hiệu Đồng Nai (Loại 12v-30Ah).

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 47P1-184.55 xe do chị Phạm Thị T là vợ của Trần Nguyên S đứng tên làm chủ sở hữu mua vào tháng 01 năm 2018. Tuy nhiên đây là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân.

Tại kết luận về định giá tài sản số 14/KL-HĐĐG ngày 22/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, biển kiểm soát 47P1-184.55 trị giá 18.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS, ngày 11 tháng 6 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp đã truy tố bị cáo Trần Nguyên S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo Trần Nguyên S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp đã truy tố.

Theo lời trình bày của người bị hại là anh Triệu Chồng P và chị Triệu Mùi H vào ngày 14/3/2018 gia đình anh, chị bị Trần Nguyên S trộm một chiếc máy bơm loại nén khí, nhãn hiệu DRAGONCT26, 01 chiếc cưa xăng hiệu STIHL, 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Neos và 01 chiếc bình ắc quy hiệu Đồng Nai (Loại 12v-30Ah), hiện nay gia đình anh đã được Công an huyện Ea Súp trao trả lại toàn bộ tài sản đã bị mất nên gia đình anh, chị không yêu cầu gì ở bị cáo.

Về trách nhiệm hình sự anh P và chị H có đơn xin bãi nại và giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

Tại phiên tòa, Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Trần Nguyên S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; 65 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Trần Nguyên S từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng.

Các biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46; 47 Bộ luật hình sự 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

Về xử lý vật chứng: Tuyên chấp nhận quyết định xử lý vật chứng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp trả lại một chiếc máy bơm loại nén khí, nhãn hiệu DRAGONCT26, 01 chiếc cưa xăng hiệu STIHL, 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Neos và 01 chiếc bình ắc quy hiệu Đồng Nai (Loại 12v-30Ah) cho gia đình anh Triệu Chồng P là chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ea Súp, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea Súp, Kiểm sát viên trong quá trình truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi tiến hành tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Lời khai của bị cáo Trần Nguyên S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở để kết luận vào ngày 14/3/2018 Trần Nguyên S đã có hành vi trộm cắp của gia đình anh Triệu Chồng P một chiếc máy bơm loại nén khí, nhãn hiệu DRAGONCT26, 01 chiếc cưa xăng hiệu STIHL, 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Neos và 01 chiếc bình ắc quy hiệu Đồng Nai (Loại 12v-30Ah) trị giá 3.360.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Trần Nguyên S đã đủ cơ sở kết luận bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015:

Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”

Xét tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm bất hợp pháp đối với quyền sở hữu về tài sản của gia đình anh Triệu Chồng P và chị Triệu Thị H, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân trong cuộc sống, bị cáo phải biết tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm trái pháp luật đều bị pháp luật nghiêm trị. Song do ý thức coi thường pháp luật và muốn có tiền tiêu xài và lười lao động nên bị cáo đã có hành vi trộm cắp tài sản của gia đình anh P nên HĐXX xét thấy cần thiết phải xử phạt bị cáo với mức án đủ nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo thì mới phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

Tuy nhiên, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Trần Nguyên S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Tài sản bị cáo trộm cắp có giá trị không lớn và đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, bị cáo có bố là ông Trần Nguyên C là thương binh hạng ¾, được Chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huy chương chiến sỹ vẻ vang, người bị hại có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy Hội đồng xét xử cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Pháp luật Nhà nước ta và cũng không nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà chỉ cần giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là Ủy ban nhân dân thị trấn E, huyện E theo dõi, giám sát, giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo cũng đủ điều kiện để bị cáo cải tạo thành người có ích cho xã hội.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp cần chấp nhận.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46; 47 Bộ Luât hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

- Về xử lý vật chứng: Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Ea Súp đã ra Quyết định xử lý vật chứng: Trả lại cho chủ sở hữu là gia đình anh Triệu Chồng P một chiếc máy bơm loại nén khí, nhãn hiệu DRAGONCT26, 01 chiếc cưa xăng hiệu STIHL, 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Neos và 01 chiếc bình ắc quy hiệu Đồng Nai (Loại 12v-30Ah).

Tuyên tịch thu trị giá ½ chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 47P1-184.55 là tài sản chung của bị cáo Trần Nguyên S và vợ là chị Phạm Thị T đứng tên làm chủ sở hữu mua vào tháng 01 năm 2018

Tuyên giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện E tiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 47P1-184.55 là tài sản chung của bị cáo Trần Nguyên S và chị Phạm Thị T là vợ của Trần Nguyên S để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Tuyên tịch thu tiêu hủy 01 đoạn sắt dài 60 cm, đường kính 1,5 cm mà bị cáo dùng để phạm tội.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

- Về án phí: Bị cáo Trần Nguyên S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Trần Nguyên S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[1] Về hình phạt: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Trần Nguyên S 09 tháng tù cho hưởng án treo thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng, thời hạn chấp hành hình phạt được tính kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trần Nguyên S về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là Ủy ban nhân dân thị trấn E, huyện E theo dõi, giám sát, giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

[2] Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46; 47 Bộ Luât hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

- Về xử lý vật chứng: Tuyên chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Ea Súp đã ra Quyết định xử lý vật chứng: Trả lại cho chủ sở hữu là gia đình anh Triệu Chồng P một chiếc máy bơm loại nén khí, nhãn hiệu DRAGONCT26, 01 chiếc cưa xăng hiệu STIHL, 01 chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu Neos và 01 chiếc bình ắc quy hiệu Đồng Nai (Loại 12v-30Ah).

Tuyên xung công quỹ nhà nước trị giá ½ chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 47P1-184.55 là tài sản chung của bị cáo Trần Nguyên S và vợ là chị Phạm Thị T.

Tuyên giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện E tiếp tục tạm giữ chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA biển kiểm soát 47P1-184.55 là tài sản chung của bị cáo Trần Nguyên S và vợ là chị Phạm Thị T để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Tuyên tịch thu tiêu hủy một đoạn sắt dài 60 cm, đường kính 1,5 cm mà bị cáo dùng để phạm tội.

Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Ea Súp và Chi cục thi hành án dân sự huyện E ngày 18 tháng 05 năm 2018.

- Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

[3] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 Tuyên buộc bị cáo Trần Nguyên S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người bị hại vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ