vanban.org

Bản án 23/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 21/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ: 06 (Sáu) năm tù. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D: 05 (Năm) năm tù.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D phạm tội "Cố ý gây thương tích".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2018/HSST
Ngày: 21/8/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC HÀ - HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Lâm

Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Tùng Long; Ông Nguyễn Khắc Diện.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Thủy.

Đại diện VKSND huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà:

Ông Trần Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2018 tại hội trƣờng xét xử, Tòa án nhân dân huyện Lộc Hà đƣa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 18/2018/TLST-HS ngày 05/7/2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 21/2018/QĐXXST-HS ngày 08/8/2018 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn Đ - Tên gọi khác: Không

Sinh ngày: 15/3/1993, tại xã A, huyện L, tỉnh H.

Nơi cƣ trú: Thôn Q, xã A, huyện L, tỉnh H.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12

Con ông: Nguyễn Văn S - (Đã chết) và bà: Nguyễn Thị T1 - Sinh năm 1964.

Vợ, con: Chƣa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn “Cấm đi khỏi nơi cƣ trú”.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2. Nguyễn Trọng D - Tên gọi khác: Không

Sinh ngày: 22/12/1988 tại xã A, huyện L, tỉnh H.

Nơi cƣ trú: Thôn Q, xã A, huyện L, tỉnh H.

Nghề nghiệp: Thợ xây; Trình độ văn hóa: 9/12

Con ông: Nguyễn Trọng T2 - Sinh năm: 1962 và bà: Nguyễn Thị N - Sinh năm: 1963.

Vợ, con: Chƣa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 26/7/2012 bị Công an huyện Lộc Hà ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, số tiền 1.500.000đ về hành vi “Cố ý gây thƣơng tích” (Đã nộp phạt ngày 27/7/2012).

Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn “Cấm đi khỏi nơi cƣ trú”.

(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại: Anh Nguyễn Trọng D1 - Sinh ngày: 08/02/1996

Trú tại: Thôn C, xã A, huyện L, tỉnh H.

Nghề nghiệp: Lao động tự do. (Có mặt tại phiên tòa).

- Người giám định: 1. Bác sĩ Nguyễn Văn T3 (Có mặt tại phiên tòa).

Chức vụ: Giám định viên, Phó giám đốc Trung tâm Pháp y tỉnh Hà Tĩnh

2. Bác sĩ Đặng H1. (Có mặt tại phiên tòa).

Chức vụ: Giám định viên Trung tâm Pháp y tỉnh Hà Tĩnh.

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Duy Đ1 - Sinh năm: 1995. (Có mặt tại phiên tòa);

2. Anh Nguyễn Quang T - Sinh năm: 1995. (Vắng mặt tại phiên tòa);

2. Anh Nguyễn Văn N - Sinh năm: 1992. (Vắng mặt tại phiên tòa).

Đều trú tại: Thôn Q, xã A, huyện L, tỉnh H.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Vào khoảng 22 giờ ngày 26/02/2018, Nguyễn Trọng D đến hội quán thôn Q, xã A, huyện L, tỉnh H để chơi đám cƣới con ông Nguyễn Trọng N1. Lúc này, do đã muộn nên mọi ngƣời ngừng chơi tại hội quán mà tập trung vào nhà ông N1 để ăn cháo đêm và uống rƣợu. Quá trình ngồi ăn cháo Nguyễn Trọng D ngồi cùng bàn với Nguyễn Trọng D1 cùng một số ngƣời khác. Do trƣớc đó đã uống rƣợu, nên trong lúc mọi ngƣời vừa ăn cháo vừa chúc rƣợu nhau thì D không uống mà chỉ nâng chén rƣợu lên chúc rồi đặt xuống. Đến khoảng gần 22 giờ 30 phút thì có ngƣời anh họ của D đến bàn chúc rƣợu và bảo D uống hết chén rƣợu nhƣng D chỉ nâng chén lên rồi đặt xuống và ăn cháo. Thấy vậy nên D1 nói: “Lúc nãy tới giờ nhà mình chúc, nó có uống đâu mà anh chúc”. Thấy D1ít tuổi hơn nhƣng lại xƣng hô hỗn láo với mình nên D bức xúc và có lời qua tiếng lại với D1. Lúc này D cầm bát lên để đánh D1 nhƣng đƣợc mọi ngƣời can ngăn nên D bỏ bát xuống rồi đi ra phía ngoài cổng nhà ông N1. Khi D đi ra thì Nguyễn Văn Đ đang ngồi bàn bên cạnh đi theo ra và vỗ vào vai nói: “Loại trẻ con hỗn láo, để em về lấy dao đâm nó”. Đang bức xúc nên D nói: “Loại trẻ con hỗn láo, đập chết mẹ nó đi!”. Khi nghe D nói vậy thì Đ đi về nhà lấy một con dao Thái Lan mà gia đình thƣờng sử dụng để gọt hoa quả dấu vào trong túi quần rồi quay lại nhà ông N1. Khi gặp lại D, D hỏi: “Có dao chƣa?”, thì Đ trả lời: “Có rồi” và lấy dao từ trong túi quần ra cho D xem. D nói với Đ: “Vào đâm đi, có gì anh giữ ngƣời cho mà chạy”. Nghe lời D, Đàn đi vào sân nhà ông N1 rồi đi vòng lại phía sau nơi D1 đang ngồi dùng dao đâm một phát vào mạn sƣờn bên trái của D1. Do bị đâm bất ngờ nên D1 quay ngƣời lại về phía Đ1, Đ1 rút dao ra định bỏ chạy thì bị anh Nguyễn Quang T1 ôm giữ lại, còn anh Nguyễn Duy Đ1 giằng đƣợc dao rồi bẻ đôi và vứt ra vƣờn nhà ông N1. Lúc này D1 ngã xuống còn Đ thoát đƣợc ra và bỏ chạy vào nhà ông N1, mọi ngƣời đuổi theo, thấy vậy D chạy vào hiên nhà ông N1 giang hai tay ra ngăn cản không cho mọi ngƣời đuổi theo Đ. Sau khi bị thƣơng, D1 đƣợc đƣa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh, Bệnh viện hữu nghị Việt Đức - Hà Nội từ ngày 26/02/2018 đến ngày 29/3/2018 thì ra viện.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thƣơng tích số: 38/TgT ngày 23/4/2018 của Trung tâm pháp y sở y tế Hà Tĩnh kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Vết thƣơng thấu ngực trái: Tràn máu màng phổi, hiện tại còn dịch màng phổi.

- Vết thƣơng thấu bụng: Thủng cơ hoành, thủng dạ dày.

- Vùng ngực trái cách núm vú 05cm, có 02 sẹo vết thƣơng kích thƣớc 0,5cm x 5,2cm và 0,5cm x 03cm.

- Đƣờng nách giữa bên trái có 02 vết thƣơng kích thƣớc 02cm x 01 cm; 2,3cm x 0,2cm.

- Vùng bụng trái có 03 sẹo dẫn lƣu kích thƣớc 1,8cm x 0,5cm; 1,8cm x 0,5cm và 02cm x 0,5cm.

- Đƣờng trắng giữa rốn lên 07cm sẹo dẫn lƣu kích thƣớc 1,5cm x 0,5cm và rốn lên 01cm sẹo dẫn lƣu kích thƣớc 0,8cm x 0,2cm.

2. Kết luận: Căn cứ bảng tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể ban hành kèm theo Thông tƣ số 20/2014/TT-BYT ngày 12/6/2014 của Bộ Y Tế. Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là 54%.

Tại công văn số 53/TTYT-CV ngày 24/5/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế Hà Tĩnh giải thích về kết luận giám định phản ánh:

- Vết thƣơng thấu ngực: Tràn máu màng phổi, đã phẩu thuật, hiện tại còn dịch màng phổi trái: 16%.

- Vết thƣơng thấu bụng: Thủng cơ hoành: 21%.

- Vết thƣơng thấu bụng: Thủng dạ dày: 31%.

Áp dụng theo phƣơng pháp cộng lùi, tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên hiện tại là: 54%.

Cơ chế hình thành thƣơng tích: Vết thƣơng do vật sắc nhọn gây nên.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Hà đã thu giữ: 01 con dao Thái Lan nhãn hiệu KIWI BRAND Made in Thái Lan bị gãy làm hai phần, cán dao đƣợc làm bằng nhựa màu đen dài 12cm, lƣỡi dao bằng kim loại dài 19,9cm (do Công an xã An Lộc thu giữ tại hiện trƣờng).

Trong quá trình giải quyết vụ án gia đình các bị cáo đã bồi thƣờng toàn bộ chi phí điều trị cũng nhƣ hỗ trợ tổn thất về sức khỏe và tinh thần cho ngƣời bị hại nên đại diện theo ủy quyền của ngƣời bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự. Tại phiên tòa, ngƣời bị hại đề nghị các bị cáo hỗ trợ thêm mỗi bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) chi phí tái khám.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, lời khai của những ngƣời làm chứng và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Mục đích các bị cáo chỉ muốn đánh gây thƣơng tích cho ngƣời bị hại để cảnh cáo việc ngƣời bị hại đã có lời nói, thái độ hỗn láo trong lúc ngồi uống rƣợu chứ không có ý thức tƣớc đoạt tính mạng của ngƣời bị hại. Các bị cáo chấp nhận hỗ trợ cho ngƣời bị hại mỗi bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) chi phí tái khám.

Các giám định viên trình bày: Hiện tại ngƣời bị hại có nhiều vết sẹo ở vùng ngực, vùng bụng, nhƣng chỉ có một vết sẹo do vết thƣơng là vật sắc nhọn gây nên, các vết sẹo còn lại là vết sẹo do phẩu thuật và vết sẹo dẫn lƣu trong quá trình điều trị. Các vết thƣơng để lại trong vùng ngực và ổ bụng đều thẳng hàng.

Bản cáo trạng số 21/CT-VKSLH 04/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D có đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích”. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D về tội Cố ý gây thƣơng tích. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 06 (Sáu) đến 07 (Bảy) năm tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D 05 đến 06 năm tù, thời hạn thù tính từ ngày các bị cáo vào trại giam thi hành án.

Lời nói sau cùng của các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D: Các bị cáo đã nhận thức đƣợc hành vi của mình là vi phạm pháp luật; các bị cáo rất ăn năn, hối cải và xin lỗi ngƣời bị hại; các bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm đƣợc trở về với gia đình và xã hội, các bị cáo xin hứa từ nay về sau sẽ tự rèn luyện bản thân, không vi phạm pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về Nội dung vụ án: Xét lời khai nhận tội của các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D trƣớc phiên tòa hôm nay là hoàn toàn phù hợp với lời khai của ngƣời bị hại, lời khai ngƣời làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ do cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh thu thập trong quá trình khởi tố, điều tra vụ án. Do đó HĐXX đã có đủ chứng cứ để kết luận:

Vào khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 26/02/2018, tại nhà ông Nguyễn Trọng N1 ở thôn Q, xã A, huyện L, tỉnh H, do mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc uống rƣợu, Nguyễn Trọng D đã có lời nói kích động, xúi giục Nguyễn Văn Đ dùng dao đâm anh Nguyễn Trọng D1 trú tại thôn C, xã A, huyện L, tỉnh H bị thƣơng tổn hại sức khỏe 54% tại thời điểm giám định.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ dùng dao đâm anh Nguyễn Trọng D1là “Dùng hung khí nguy hiểm”, đây là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đƣợc quy định tại điểm a khoản 1 điều 134 BLHS.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ không có mâu thuẫn trực tiếp với anh Nguyễn Trọng D1 nhƣng đã dùng dao gây thƣơng tích cho ngƣời bị hại. Hành vi đó của bị cáo Nguyễn Văn Đ rất liều lĩnh, coi thƣờng pháp luật, coi thƣờng tính mạng, sức khoẻ của ngƣời khác và thể hiện rõ "tính chất côn đồ", đây là tình tiết tăng nặng định khung hình phạt đƣợc quy định tại điểm i khoản 1 điều 134 BLHS.

Hậu quả anh Nguyễn Trọng D1 bị thƣơng, tổn hại sức khỏe 54% tại thời điểm giám định.

Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Hà truy tố các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm c khoản 3 điều 134 BLHS là đúng ngƣời, đúng tội, đúng chính sách Pháp luật.

Điểm c khoản 3 điều 134 BLHS quy định: “Phạm tội thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

c) Gây thƣơng tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của ngƣời khác mà tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể từ 31% đến 60% nhƣng thuộc một trong các trƣờng hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 điều này”.

Xét tính chất vụ án, HĐXX xét thấy đây là vụ án “Cố ý gây thƣơng tích” gây hậu quả rất nghiêm trọng. Mặt khác vụ án xảy ra trong bối cảnh tình hình tội phạm có chiều hƣớng gia tăng, các bị cáo là ngƣời có sức khỏe, có nhận thức và hiểu biết nhất định về pháp luật, đáng lẽ ra các bị cáo phải chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, chăm lo làm ăn nhƣng vì không tu dƣỡng nên bị cáo đã đi vào con đƣờng phạm tội. Vụ án xẩy ra gây dƣ luận không tốt trong quần chúng nhân dân, ảnh hƣởng đến an ninh trật tự tại địa phƣơng.

Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn Đ mặc dù không có mâu thuẫn gì với ngƣời bị hại nhƣng là ngƣời khởi xƣớng, về nhà lấy dao và trực tiếp đâm gây thƣơng tích cho ngƣời bị hại, hành vi của bị cáo mang tính chất liều lĩnh, ngang tàng, bị cáo đã dùng dao đâm vào vào mạn sƣờn bên trái của ngƣời bị hại mặc cho hậu quả xẩy ra. Hành vi của bị cáo thể hiện sự xem thƣờng pháp luật, xem thƣờng tính mạng sức khỏe của ngƣời khác.

Đối với bị cáo Nguyễn Trọng D là ngƣời trực tiếp mâu thuẫn với ngƣời bị hại và đã có những lời nói xúi dục, kích động, hỗ trợ tinh thần cho bị cáo Nguyễn Văn Đ thực hiện hành vi phạm tội.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội không thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì các bị đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ TNHS: “Tự nguyện bồi thường thiệt hại”; “Thành khẩn khai báo”, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đƣợc quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 điều 51 BLHS. Tại phiên tòa, ngƣời bị hại đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, do đó bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 điều 51 BLHS.

Xét về nhân thân thì bị cáo Nguyễn Trọng D có nhân thân xấu, ngày 26/7/2012 bị Công an huyện Lộc Hà ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền, số tiền 1.500.000đ về hành vi “Cố ý gây thƣơng tích” (Đã nộp phạt ngày 27/7/2012) nhƣng đã đƣợc xóa tiền sự; bị cáo Nguyễn Văn Đ có nhân thân tốt, trƣớc khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự.

Sau khi xem xét, đánh giá tính chất vụ án và hậu quả của tội phạm, động cơ, mục đích phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, HĐXX xét thấy cần thiết phải áp dụng khoản 3 điều 134 BLHS xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D mức hình phạt đủ nghiêm, tƣơng xứng với hành vi phạm tội và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để các bị cáo rèn luyện bản thân trở thành công dân lƣơng thiện đồng thời có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa chung.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà, ngƣời bị hại Nguyễn Trọng D1 và các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D tự nguyện thỏa thuận: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D bồi thƣờng thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại cho anh Nguyễn Trọng D mỗi bị cáo số tiền: 5.000.000đ (Năm triệu đồng) chi phí tái khám do sức khỏe bị xâm phạm. HĐXX xét thấy sự thỏa thuận bồi thƣờng trách nhiệm dân sự giữa các bị cáo và ngƣời bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội, do đó chấp nhận và áp dụng điều 48 BLHS; khoản 1 điều 584; khoản 1 điều 585; khoản 1 điều 586; điều 587; điều 590 BLDS xử buộc các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D phải bồi thƣờng thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Nguyễn Trọng D1 mỗi bị cáo số tiền: 5.000.000đ (Năm triệu đồng) chi phí tái khám.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Hà đã thu giữ: 01 con dao nhãn hiệu KIWI BRAND made in Thái Lan, bị gãy làm hai phần, cán dao đƣợc làm bằng nhựa màu đen dài 12 cm, lƣỡi dao bằng kim loại dài 19,9cm. HĐXX xét thấy đây là công cụ, phƣơng tiện phạm tội, hiện nay không còn giá trị sử dụng, do đó áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS, tuyên tịch thu tiêu huỷ.

Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí HSST và án phí DSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Áp dụng điểm c khoản 3 điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ: 06 (Sáu) năm tù.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng D: 05 (Năm) năm tù.

Thời hạn tù của các bị cáo tính từ ngày các bị cáo vào trại giam thi hành án.

Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng điều 48 BLHS; khoản 1 điều 584; khoản 1 điều 585; khoản 1 điều 586; điều 587; điều 590 BLDS, xử buộc: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D phải bồi thƣờng chi phí tái khám do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Nguyễn Trọng D mỗi bị cáo số tiền: 5.000.000đ (Năm triệu đồng).

Đối với khoản tiền thi hành án, khi án có hiệu lực pháp luật, ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6; 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho ngƣời đƣợc thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 2 điều 106 BLTTHS, tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 (Một) con dao nhãn hiệu KIWI BRAND made in Thái Lan, bị gãy làm hai phần, cán dao đƣợc làm bằng nhựa màu đen dài 12 cm, lƣỡi dao bằng kim loại dài 19,9cm.

Về án phí: Áp khoản 2 điều 135; khoản 2 điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23; khoản 4 điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH và danh mục mức án phí, lệ phí toà án ban hành kèm theo, xử buộc: Các bị cáo Nguyễn Văn Đ và Nguyễn Trọng D mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn) án phí HSST và 300.000đ (Ba trăm nghìn) án phí DSST.

Các bị cáo và ngƣời bị hại có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh để xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./. NƠI NHẬN:

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND Cấp cao;

Cỡ chữ