- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn V - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG TỈNH ĐẮK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2018/HS-ST Ngày 20-4-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẮK SONG, TỈNH ĐẮK NÔNG
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Triệu.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Việt Dương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh Tú – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đắk Song, tỉnh Đắk Nông. Tòa án nhân dân huyện Đắk Song mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số: 22/2018/HSST, ngày 06 tháng 4 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2018/HSST-QĐ ngày 13 tháng 4 năm 2018 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V, sinh ngày 10 tháng 7 năm 1995, tại tỉnh N; nơi cư trú: Thôn 01, xã N, huyện Đ, tỉnh Đ; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị D; tiền án: 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản; tiền sự: không; Bị bắt tạm giam từ ngày 16/3/2018 đến nay - Có mặt.
- Bị hại: Anh Triệu Tiến M – vắng mặt.
Trú tại: Thôn B, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Đ.
- Người làm chứng: Anh Hoàng Văn T – vắng mặt.
Trú tại: Thôn B, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 01/3/2018, V điều khiển xe mô tô BKS: 48D-020.37 đi từ nhà đến thôn B, xã Tr, huyện Đ, tỉnh Đ tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi qua nhà rẫy của anh Triệu Tiến M, tại thôn B, xã Tr, huyện Đ thì thấy nhà anh M không có người trông coi, cửa và cổng đều khóa. V giấu xe máy vào rẫy tiêu đối diện rồi trèo qua hàng rào đi vào nhà anh M. Khi vào bên trong, V thấy cửa nhà chính và cửa kho đều khóa, V đi quanh nhà lấy 01 mỏ lết dài 25cm và 01 thanh sắt dài 39cm phá khóa cửa chính nhưng không được. V xuống cửa kho dùng thanh sắt kê vào 03 ổ khóa Việt Tiệp đang khóa cửa rồi dùng mỏ lết đập mạnh lên thanh sắt, đập được khoảng 10 phát thì bung ổ khóa ra, rồi V dùng xà beng cạy cửa được làm bằng tấm tôn ra. Sau đó, V đi vào bên trong nhà kho tìm thì thấy có các bao xác rắn chứa tiêu lép, V mang 05 bao tiêu lép ra ngoài để chở đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Khi đi ra ngoài cửa nhà kho thì trời mưa lớn nên V chưa mang được ra ngoài, V nằm lên các bao tiêu đợi trời tạnh mưa thì chở tiêu đi. Khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, anh Hoàng Văn T là hàng xóm của anh M nhìn thấy V nên lại hỏi “mày ở đây làm gì”, V nói là vào đây đuổi những người ăn trộm. Anh T sau đó đã gọi điện cho anh M, một lúc sau có những người hàng xóm gần đó đến thì V bỏ chạy nhưng bị anh T và mọi người bắt giữ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản ngày 08/3/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đắk Song kết luận: giá trị thành tiền của 69kg tiêu khô, hạt lép có lẫn tạp chất là: 69 x 22.000 đồng/kg = 1.518.000đ.
Tại quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 23/QĐ-VKS-ĐS ngày 05 tháng 4 năm 2018, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện VKS nhân dân huyện Đắk Song vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V mức án từ 06 đến 09 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Triệu Tiến M không có yêu cầu bồi thường nên không đặt ra vấn đề giải quyết.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 1 Điều 90 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song trả lại 01 xà beng, 01 mỏ lết, 69kg tiêu lép cho anh Triệu Tiến M là chủ sở hữu hợp pháp.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy đối với 01 thanh sắt tròn dài 39cm mà V sử dụng để phạm tội.
Tại phiên toà bị cáo không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên toà ngày hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 01/3/2018 do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Văn V đã vào nhà rẫy của anh Triệu Tiến M, tại thôn B, xã Tr, huyện Đ bí mật, lén lút chiếm đoạt 05 bao tiêu lép trị giá 1.518.000đ.
Trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Việc Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đắk Song truy tố bị cáo về “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đ đến dưới 50.000.000đ hoặc dưới 2.000.000đ nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
…
b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các Điều 168,169,170,171,172,174,175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
…”
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự chung tại địa phương. Để giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ý thức chấp hành pháp luật cũng như răn đe phòng ngừa chung trong xã hội cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt đủ nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay và trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử sẽ áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo để thể hiện sựu khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đang sống phụ thuộc gia đình, không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xét đề nghị về mức hình phạt của vị đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa hôm nay là phù hợp cần chấp nhận.
Về vật chứng vụ án: Việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song trả lại 01 xà beng, 01 mỏ lết, 69kg tiêu lép cho anh Triệu Tiến M là chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp cần chấp nhận.
Đối với 01 thanh sắt tròn dài 39 cm mà V sử dụng để phạm tội cần tịch thu tiêu hủy do không còn giá trị sử dụng.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm b khoản 1 điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn V 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam ngày 16/3/2018.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm c khoản 1 Điều Bộ luật tố tụng hình sự, chấp nhận việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đắk Song trả lại 01 xà beng, 01 mỏ lết, 69kg tiêu lép cho anh Triệu Tiến M là chủ sở hữu hợp pháp.
Tịch thu tiêu hủy đối với 01 thanh sắt tròn dài 39cm mà V sử dụng để phạm tội.
Về án phí: Căn cứ Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2017 về phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí HSST.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Nông; - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Nông; - Phòng PV 27 CA tỉnh Đắk Nông; - VKSND huyện Đắk Song; - Công an huyện Đắk Song; - Chi cục THA DS huỵên Đắk Song; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM HỘI Đ NG X T X Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) NGUYỄN XUÂN TRIỆU |