- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản B-T"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn B đối với các bị đơn ông Đặng Văn T và bà Lê Thị Hồng G về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản như sau:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 23/2018/DS-ST Ngày: 20-4-2018 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Tâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1- Ông Lê Quang Xẹt
2- Ông Phạm Quang Trí
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Đình Hưởng – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 292/2017/TLST-DS ngày 21/11/2017 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2018/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 3 năm 2018, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Văn B, sinh năm 1963, địa chỉ: Tổ 3, ấp Tân An, xã Tân Vĩnh Hiệp, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Có mặt
- Bị đơn: Ông Đặng Văn T, sinh năm 1975 và Bà Lê Thị Hồng G, sinh năm 1979. Cùng địa chỉ: Tổ 4, khu phố Bình Hòa 2, phường Tân Phước Khánh, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 09/8/2017 và đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ngày 23/10/2017, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Võ Văn B trình bày:
Do chỗ quen biết với vợ chồng ông Đặng Văn T và bà Lê Thị Hồng G nên vào ngày 02/4/2016, sau khi vợ chồng ông T, bà G hỏi mượn tiền thì nguyên đơn có cho vợ chồng ông T, bà G mượn số tiền 300.000.000 đồng không tính lãi suất, mục đích để vợ chồng ông T, bà G làm ăn, hẹn đến ngày 02/10/2016 thì vợ chồng, ông T, bà G phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 300.000.000 đồng, việc này hai bên có lập giấy mượn tiền đề ngày 02/4/2016.
Tuy nhiên cho đến nay nguyên đơn nhiều lần yêu cầu vợ chồng ông T, bà G phải trả lại số tiền 300.000.000 đồng nhưng vợ chồng ông T, bà G vẫn không trả lại cho nguyên đơn. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc vợ chồng ông T, bà G phải có trách nhiệm hoàn trả số tiền đã mượn là 300.000.000 đồng. Chứng cứ kèm theo yêu cầu khởi kiện nguyên đơn cung cấp là Giấy mượn tiền đề ngày 02/4/2016 có chữ ký bên cho mượn là Võ Văn B, bên mượn là ông Đặng Văn T và bà Lê Thị Hồng G.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn, triệu tập các bị đơn tham gia tố tụng nhưng các bị đơn không đến Tòa án để làm việc, không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng,
Tại phiên tòa nguyên đơn, ông Võ Văn B giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đối với các bị đơn. Tuy nhiên, ông B xác định việc cho vay không thỏa thuận lãi suất nhưng sau khi vay tiền bị đơn có trả cho ông số tiền 40.000.000 đồng cho nên hiện tại ông chỉ yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền vay gốc là 260.000.000 đồng.
Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu quan điểm tại phiên toà sơ thẩm như sau:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình tiến hành tố tụng và tại phiên toà, những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Các bị đơn ông Đặng Văn T và bà Lê Thị Hồng G đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải 2 lần, triệu tập tham gia phiên tòa 2 lần nhưng vắng mặt không lý do. Việc ông T, bà G không đến Tòa án là tự từ bỏ quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các bị đơn. tiền
Về nội dung:
Xét thấy, nội dung "Giấy mượn tiền" ngày 02/4/2016 được ký giữa ông Võ Văn B với vợ chồng ông Đặng Văn T và bà Lê Thị Hồng G thể hiện: Ngày 02/4/2016 vợ chồng ông T, bà G có mượn của ông Võ Văn B số tiền 300.000.000 đồng, hẹn thanh toán vào ngày 02/10/2016, không thỏa thuận lãi suất. Giấy mượn tiền có chữ ký, dấu lăn tay của ông T, bà G phía dưới chữ "người mượn". Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên đã tiến hành triệu tập hợp lệ đối với bị đơn nhiều lần và triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Như vậy, bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh và quyền phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do dó, chứng cứ bị đơn xuất trình là "giấy mượn tiền" ngày 02/4/2016 đủ cơ sở chứng minh giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập một giao dịch dân sự dân sự về hợp đồng vay tài sản. Theo nội dung hợp đồng vay tài sản thì bị đơn phải có trách nhiệm thanh toán số tiền vay là 300.000.000 đồng vào ngày 02/10/2016. Đến thời hạn vay, không có chứng cứ xác định bị đơn bỏ trốn khởi địa phương nhưng bị đơn được xác định là nhiều lần né tránh trách nhiệm trả nợ, do đó việc bị đơn không thanh toán số tiền vay theo đúng thời hạn của hợp đồng là vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Tại phiên tòa, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền vay còn lại là 260.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Đối với lãi suất chậm trả: Nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải thanh toán cho nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn.
Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên toà đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp, đúng pháp luật.
Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điểm c Khoản 1 Điều 217, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 298, Điều 471, Khoản 1 Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005;
Áp dụng Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn B đối với các bị đơn ông Đặng Văn T và bà Lê Thị Hồng G về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản như sau:
- Buộc ông Đặng Văn T và bà Lê Thị Hồng G có nghĩa vụ liên đới thanh toán cho ông Võ Văn B số tiền vay 260.000.000 đồng (Hai trăm sáu mươi triệu đồng).
- Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn ông Võ Văn B về việc không yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi suất chậm trả.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất do Ngân hàng nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm thanh toán, tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 cho đến khi thi hành án xong.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Đặng Văn T và bà Lê Thị Hồng G phải liên đới nộp 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).
- Hoàn trả cho ông Võ Văn B số tiền tạm ứng án phí: 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số 0013483 ngày 17/11/2017 tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên.
Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Các đương sự ; - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thị xã Tân Uyên; - Chi cục THA Dân sự thị xã Tân Uyên; - Lưu: VT, HS. | THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Tấn Tâm |