- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "tranh chấp hụi"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN B, TÆNH E | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Baûn aùn soá: 23/2018/ DS-ST Ngaøy: 27/ 03 /2018 V/v: “Tranh chaáp hợp đồng góp huïïi” |
NHAÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TOØA AÙN NHAÂN DAÂN HUYEÄN B, TÆNH E
- Thaønh phaàn Hoäi ñoàng xeùt xöû sô thaåm goàm coù :
Thaåm phaùn - Chuû toïa phieân toøa: Baø Lê Thị Thu Hương
Caùc Hoäi thaåm nhaân daân:
1/ Ông Nguyễn Văn Bình
2/ Ông Bùi Tuấn Khanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phi – Thư ký Toøa aùn, Tòa án nhaân daân huyeän B, tænh E.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện B tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ngân – Kiểm sát viên.
Trong ngaøy 27 thaùng 03 naêm 2018, taïi truï sôû Toøa aùn nhaân daân huyeän B, xeùt xöû sô thaåm coâng khai theo thủ tục chung vuï aùn ñaõ thuï lyù soá: 350/2016/TLST-DS ngaøy 21 thaùng 10 naêm 2016 veà tranh chaáp: “hợp đồng góp hụi”. Theo Quyeát ñònh ñöa vuï aùn ra xeùt xöû soá: 13/2018/QÑXX-DS ngaøy 19 thaùng 01 naêm 2018. Giöõa caùc ñöông söï:
* Nguyeân ñôn: Nguyễn Thị P, sinh năm 1969 (Có maët).
Ñòa chæ: ấp 1, xã T, huyeän B, tænh E.
* Bò ñôn: 1/ Nguyễn Thị Thúy O, sinh naêm 1969 (Có maët).
2/ Trần Văn T, sinh năm 1965 (Có mặt).
Đòa chæ: Ấp 1, xã T, huyeän B, tænh E.
Bà Nguyễn Thị Thúy O ủy quyền cho ông Trần Văn T tham gia tố tụng theo giấy ủy quyền đề ngày 5/9/2017.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Trong ñôn khôûi kieän ngaøy 21/07/2016, bản tự khai ngày 16/11/2016, biên bản hòa giải ngày 12/09/2017, và những lời trình bày tiếp theo cũng như tại phiên tòa hôm nay nguyeân ñôn bà Nguyễn Thị P trình bày như sau:
Bà Nguyễn Thúy O, ông Trần Văn T có tham gia chơi 07 dây hụi do bà làm chủ, cụ thể như sau:
Dây 1: Hụi khui ngày 25/8/2011 âm lịch, mệnh giá hụi là 3.000.000đồng, hai tháng khui một, gồm 25 phần bà O, ông T tham gia chơi 02 phần. Bà O đã hốt hết hai phần vào ngày 25/07/2013 âm lịch và ngày 25/09/2013 âm lịch bà đã gia hụi đầy đủ cho bà O ký nhận tiền. Sau khi hốt hụi bà O, ông T đóng hụi 25/01/2014 âm lịch thì ngưng không đóng nữa, tính đến ngày mãn hụi là ngày 25/06/2015 âm lịch bà O, ông T nợ bà 09 kỳ với số tiền là 9 kỳ x 02 phần x 3.000.000đồng = 54.000.000đồng.
Dây 2: khui ngày 10/6/2012 âm lịch, mệnh giá hụi là 3.000.000đồng, hai tháng khui một, gồm 25 phần, bà O, ông T tham gia chơi 01 phần, kỳ khui hụi thứ hai ngày 10/08/2012 âm lịch bà O bỏ hụi và hốt hụi và ký nhận tiền 32.060.000đồng. Sau khi hốt hụi bà O, ông T đóng hụi được đến lần khui thứ 11 thì ngưng không đóng nữa, tính đến ngày mãn hụi là ngày 10/06/2016 âm lịch bà O, ông T nợ bà 14 kỳ với số tiền là 14kỳ x 01 phần x 3.000.000đồng = 42.000.000đồng.
Dây 3: khui ngày 30/11/2012 âm lịch, mệnh giá hụi là 3.000.000đồng, hai tháng khui một, gồm 25 phần, bà O, ông T tham gia chơi 01 phần, hụi này khui đến lần thứ 5 thì ngày 30/09/2013 âm lịch bà O bỏ hụi và hốt hụi và ký nhận tiền 35.700.000đồng. Sau khi hốt hụi bà O, ông T đóng hụi được đến lần khui thứ 11 ngày 30/01/2014 âm lịch thì ngưng không đóng nữa, tính đến ngày mãn hụi là ngày 30/10/2016 âm lịch bà O, ông T nợ bà 17 kỳ với số tiền là 17kỳ x 01 phần x 3.000.000đồng = 51.000.000đồng.
Dây 4: khui ngày 15/9/2013 âm lịch, mệnh giá hụi là 1.000.000đồng, một tháng khui hai lần vào ngày 15 và 30 hàng tháng, gồm 30 phần, bà O, ông T tham gia chơi 02 phần. Hụi này khui đến lần thứ 7 và thứ 8 bà O bỏ hụi và hốt hụi bà đã giao hụi đầu đủ cho bà O nhận. Sau khi hốt hụi bà O, ông T đóng hụi được đến kỳ khui thứ 12 ngày 15/01/2014 âm lịch thì ngưng không đóng nữa, tính đến ngày mãn hụi là ngày 15/10/2014 âm lịch bà O, ông T nợ bà 18 kỳ với số tiền là 18kỳ x 02 phần x 1.000.000đồng = 36.000.000đồng.
Dây 5: khui ngày 05/4/2012 âm lịch, mệnh giá hụi là 500.000đồng, một tháng khui một lần, gồm 30 phần, bà O, ông T tham gia chơi 04 phần, trong đó 02 phần bà O chơi, 02 phần của ông Te và Bé Mèo. Hụi này bà O bỏ hụi và hốt hụi khui ở lần thứ 03, 05, 07 và thứ 8 bà đã giao hụi đầu đủ cho bà O nhận. Sau khi hốt hụi bà O, ông T đóng hụi được đến kỳ khui thứ 22 ngày 05/01/2014 âm lịch thì ngưng không đóng nữa. Tại phiên tòa bà P thay đổi yêu cầu chỉ khởi kiện 02 phần bà O chơi, tính đến ngày mãn hụi là ngày 05/09/2014 âm lịch bà O, ông T nợ bà 08 kỳ với số tiền là 08kỳ x 02 phần x 500.000đồng = 8.000.000đồng.
Dây 6: Tại phiên tòa bà P thay đổi yêu cầu trong dây hụi khui ngày 25/8/2013 âm lịch, vào chủ nhật hàng tuần, mệnh giá hụi là 200.000đồng, gồm 55 phần, bà O, ông T tham gia chơi 02 phần. Hụi này bà O bỏ hụi và hốt hụi khui ở lần thứ 10, 12, bà đã giao hụi đầu đủ cho bà O nhận. Sau khi hốt hụi bà O, ông T đóng hụi được đến kỳ khui thứ 25 thì ngưng không đóng nữa, tính đến ngày mãn hụi là ngày 05/11/2014 âm lịch bà O, ông T nợ bà 30 kỳ với số tiền là 30kỳ x 02 phần x 200.000đồng = 12.000.000đồng.
Dây 7: Tại phiên tòa bà P thay đổi yêu cầu trong dây hụi khui ngày 29/8/2013 ân lịch, vào thứ 5 hàng tuần, mệnh giá hụi là 200.000đồng, gồm 55 phần, bà O, ông T tham gia chơi 05 phần (trong đó bà O, ông T tham gia chơi 02 phần; bà 05 Tiệm chơi dùm 03 phần). Hụi này bà O bỏ hụi và hốt hụi khui ở lần thứ 8, 13 bà đã giao hụi đầu đủ cho bà O nhận (trong đó 02 phần hốt là của O, ông T tham gia chơi; còn 01phần hốt còn lại là do bà 5 Tiệm chơi dùm). Sau khi hốt hụi bà O, ông T đóng hụi được đến kỳ khui thứ 25 thì ngưng không đóng nữa, tính đến ngày mãn hụi bà O, ông T nợ bà 30 kỳ với số tiền là 30kỳ x 02 phần x 200.000đồng = 12.000.000đồng.
Tổng cộng 07 dây hụi bà O, ông T nợ bà là 215.000.000đồng, Tại phiên tòa bà chỉ yêu cầu bà O, ông T trả lại bà 215.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi suất.
Đối với yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Thúy O yêu cầu bà trả lại 117.500.000đồng trong các dây hụi thứ 3,4,5,6 và dây hụi thứ 7 thì bà không đồng ý vì các dây hụi này bà đã giao hụi hết và còn lại là hụi của bà 5 Tiệm và của bà 6 Lê Hoa chơi, bà sẽ thỏa thuận sau.
* Tại đơn phản tố ngày 05/10/2017, bản tự khai ngày 10/11/2016, Biên bản lấy lời khai ngày 12/09/2017, biên bản hòa giải ngày 12/09/2017, và những lời trình bày tiếp theo cũng như tại phiên tòa hôm nay bị ñôn ông Trần Văn T (cũng là người nhận ủy quyền của bị đơn Nguyễn Thị Thúy O) trình bày như sau:
Ông thừa nhận vợ chồng ông cò tham gia chơi hụi do bà P làm chủ, cụ thể 07 dây như sau:
Dây 1: Hụi khui ngày 25/8/2011 âm lịch, mệnh giá hụi là 3.000.000đồng, hai tháng khui một, gồm 25 phần, vợ chồng ông tham gia chơi 02 phần. Dây hụi này vợ chồng ông đã hốt hết hai phần vào ngày 25/07/2013 âm lịch và ngày 25/09/2013 âm lịch bà O đã gia hụi đầy đủ và ký nhận tiền. Sau khi hốt hụi vợ chồng ông đóng hụi 05/2014 âm lịch thì ngưng không đóng nữa, tính đến ngày mãn hụi là ngày 25/08/2015 vợ chồng ông nợ bà P 07 kỳ với số tiền là 7 kỳ x 02 phần x 3.000.000đồng = 42.000.000đồng.
Dây 2: khui ngày 10/6/2012 âm lịch, mệnh giá hụi là 3.000.000đồng, hai tháng khui một, gồm 25 phần, vợ chồng ông tham gia chơi 01 phần, kỳ khui hụi thứ hai ngày 10/08/2012 âm lịch bà O bỏ hụi và hốt hụi và ký nhận tiền 36.000.000đồng. Sau khi hốt hụi vợ chồng ông đóng hụi được đến lần khui thứ 13 tháng 5/2014 âm lịch thì ngưng không đóng nữa, tính đến ngày mãn hụi là ngày 10/06/2016 âm vợ chồng ông nợ bà P 12 kỳ với số tiền là 12 kỳ x 01 phần x 3.000.000đồng = 36.000.000đồng.
Dây 3: khui ngày 30/11/2012 âm lịch, mệnh giá hụi là 3.000.000đồng, hai tháng khui một, gồm 25 phần, vợ chồng ông tham gia chơi 02 phần (trong đó một phần mang tên O, 01 phần vợ chồng ông nhờ bà 6 Lệ Hoa đứng tên chơi dùm), hụi này khui đến lần thứ 5 ngày 30/09/2013 âm lịch bà O bỏ hụi và hốt hụi và ký nhận tiền 35.700.000đồng. Sau khi hốt hụi vợ chồng ông đóng hụi được đến tháng 05/2014 âm lịch thì ngưng không đóng nữa, tính đến ngày mãn hụi là ngày 30/11/2016 âm lịch vợ chồng ông nợ bà P 15 kỳ với số tiền là 15kỳ x 01 phần x 3.000.000đồng = 45.000.000đồng. Còn phần hụi sống còn lại của bà O chưa hốt đóng hụi được 10 kỳ số tiền là 15.000.000đồng nhưng bà O yêu cầu bà P trả lại 30.000.000đồng.
Dây 4: khui ngày 15/9/2013 âm lịch, mệnh giá hụi là 1.000.000đồng, một tháng khui hai lần vào ngày 15 và 30 hàng tháng, gồm 30 phần, vợ chồng ông tham gia chơi 04 phần phần (trong đó 02 phần mang tên O, 02 phần vợ chồng ông nhờ bà 6 Lệ Hoa đứng tên chơi dùm). Hụi này khui đến lần thứ 7 và thứ 8 bà O bỏ hụi và hốt hụi bà đã giao hụi đầu đủ cho bà O nhận. Sau khi hốt hụi vợ chồng ông đóng hụi được đến kỳ khui thứ 18 tháng 05/2014 âm lịch thì ngưng không đóng nữa, tính đến ngày mãn hụi là ngày 15/10/2014 âm lịch vợ chồng ông nợ bà P 12 kỳ với số tiền là 12kỳ x 02 phần x 1.000.000đồng = 24.000.000đồng. Riêng 02 phần hụi sống của bà O chưa hốt thì vợ chồng ông đóng hụi được 18 kỳ số vốn đóng bao nhiêu vợ chồng ông không nhớ nhưng bà O yêu cầu bà P trả lại 18 kỳ số tiền là 36.000.000đồng.
Dây 5: khui ngày 05/4/2012 âm lịch, mệnh giá hụi là 500.000đồng, một tháng khui một lần, gồm 30 phần, vợ chồng ông tham gia chơi 04 phần. Hụi này bà O bỏ hụi và hốt hụi hết 03 phần bà O đã nhận tiền hụi đầu đủ. Sau khi hốt hụi vợ chồng ông đóng hụi được đến kỳ khui thứ 25 ngày 05/05/2014 âm lịch thì ngưng không đóng nữa, tính đến ngày mãn hụi là ngày 05/09/2014 âm lịch vợ chồng ông nợ bà P 05 kỳ với số tiền là 05kỳ x 03 phần x 500.000đồng = 7.500.000đồng. Riêng dây hụi sống còn lại vợ chồng ông đóng hụi được 25 kỳ số vốn bao nhiêu không nhớ nhưng bà O yêu cầu bà P trả lại 25 kỳ x 500.000đồng = 12.500.000đồng.
Dây 6: khui ngày 25/8/2013 âm lịch, vào chủ nhật hàng tuần, mệnh giá hụi là 200.000đồng, gồm 55 phần, vợ chồng ông tham gia chơi 05 phần(trong đó 03 phần mang tên O, 02 phần vợ chồng ông nhờ bà 6 Lệ Hoa đứng tên chơi dùm). Hụi này bà O bỏ hụi và hốt hụi 02 của bà 6 Lệ Hoa, phần bà P đã giao hụi đầy đủ cho bà O nhận. Sau khi hốt hụi vợ chồng ông đóng hụi được đến kỳ thứ 35 tháng 5/2014 âm lịch thì ngưng không đóng nữa, tính đến ngày mãn hụi là ngày 05/09/2014 âm lịch vợ chồng ông nợ bà P 20 kỳ với số tiền là 20kỳ x 02 phần x 200.000đồng = 8.000.000đồng. Riêng đối với 03 phần hụi sống còn lại vợ chồng ông đóng hụi được 35 kỳ số vốn bao nhiêu không nhớ nhưng bà O yêu cầu bà P trả lại 35 kỳ x 03 phần x 500.000đồng = 21.000.000đồng.
Dây 7: khui ngày 29/8/2013 ân lịch, vào thứ 5 hàng tuần, mệnh giá hụi là 200.000đồng, gồm 55 phần, vợ chồng ông tham gia chơi 05 phần (trong đó bả O, ông T tham gia chơi 02 phần; bà 05 Tiệm chơi dùm 03 phần). Hụi này bà O bỏ hụi và hốt hụi 02 phần của bà 5 Tiệm, bà P đã giao hụi đầu đủ cho bà O nhận. Sau khi hốt hụi vợ chồng ông đóng hụi được đến kỳ khui thứ 30 ngày 5/5/2014 âm lịch thì ngưng không đóng nữa, tính đến ngày mãn hụi vợ chồng ông nợ bà P 25 kỳ với số tiền là 25kỳ x 02 phần x 200.000đồng = 10.000.000đồng. Riêng đối với 03 phần hụi sống còn lại ( của bà O 02 phần, của bà 5 Tiệm 01 phần)vợ chồng ông đóng hụi được 30 kỳ số vốn bao nhiêu không nhớ nhưng bà O yêu cầu bà P trả lại 30 kỳ x 03 phần x 200.000đồng = 18.000.000đồng.
Tổng cộng 07 dây hụi vợ chồng ông, bà nợ P là 172.500.000đồng, vợ chồng ông đồng ý trả bả P. Đồng thời bà O phản tố yêu cầu bà P trả lại bà 117.500.000đồng tiền hụi sống trong các dây hụi 3,4,5,6,7, không yêu cầu tính lãi suất.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biều ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Đối với thẩm phán có chấp hành tốt theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên vi phạm về thời hạn gửi, tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho đương sự và Viện Kiển sát, nhưng vi phạm này chỉ là vi phạm nhỏ không ảnh hưởng đến nội dung giải quyết vụ án nên đề nghị rút kinh nghiệm chung trong thời gian tới. Đối với Hội đồng xét xử, thực hiện đúng các nguyên tắc do pháp luật quy định. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn, có chấp hành tốt theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa mặc dù được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không chấp hành theo quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ vào Điều Điều 479, 298, 305 Boä luaät daân söï 2005; Điều 688 Boä luaät daân söï 2015; Điều 91, 92, 147 Bộ luật tố tụng dân sự; caùc Ñieàu 29, 30 Nghò ñònh soá 144/2006/NÑ-CP ngaøy 27/11/2006 cuûa Chính phuû veà hoï, huïi, bieâu, phöôøng. Đề nghị:
Chaáp nhaän yeâu caàu khôûi kieän của của bà Nguyễn Thị P đối với bà Nguyễn Thị Thúy O, ông Trần Văn T về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi.
Buộc bà Nguyễn Thị Thúy O, ông Trần Văn T phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền hụi là 215.000.000đ(Hai trăm mười lăm triệu đồng).
Đình chỉ yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Thúy O đối với bà Nguyễn Thị P về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi.
Ghi nhận bà Nguyễn Thị P không yêu cầu tính lãi suất nên không xét đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghieân cöùu caùc taøi lieäu, chöùng cöù coù trong hoà sô vuï aùn thaåm tra taïi phieân toaø, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hoäi ñoàng xeùt xöû nhaän ñònh:
* Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa bị đơn ông Trần Văn T đồng thời là người nhận ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thúy O mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng ông Trần Văn T vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà ông Trần Văn T là phù hợp với Điều 227 của bộ luật tố tụng dân sự.
Tại đơn phản tố ngày 10/05/2017 và tại biên bản hòa giải ngày 12/09/2017 bị đơn Nguyễn Thị Thúy O (ủy quyền cho ông Trần Văn T trỉnh bày ) chỉ yêu cầu một mình bà Nguyễn Thị P trả lại tiền hụi sống là 117.500.000đồng, xét thấy đây là quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 5, 189 Bộ luật tố tụng dân sự nên ghi nhận. Vì vậy, ông Lê Hoàng Diệu không tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
* Về nội dung vụ án:
Xét yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P yêu cầu bà Nguyễn Thị Thúy O, ông Trần văn T liên đới trả cho bà số tiền trong 07 dây hụi là 215.000.000đồng, không yêu cầu tính lãi suất. Hội đồng xét xử xét thấy:
Đối với dây hụi thứ nhất 1 khui ngày 25/8/2011 âm lịch và dây hụi thứ 2 khui ngày 10/6/2012 âm lịch thì bà P, bà O, ông T đã thống nhất với nhau về thời gian khui hụi, mệnh giá hụi, số phần hụi, số kỳ mở hụi. Bà O, ông T cũng thừa nhận ông, bà đã bỏ hụi và hốt hụi đã nhận tiền đầy đủ do chủ hụi giao. Tuy nhiên sau khi hốt hụi ông, bà không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người hụi viên không đóng hụi chết cho chủ hụi khi đến kỳ mở hụi. Cụ thể bà O, ông T xác định đã đóng hụi chết tháng 5/2014 âm lịch thì ngưng không đóng nữa nhưng ông, bà không có chứng cứ chứng minh là mình đã đóng chết hụi đến tháng 5/2014 âm lịch. Trong khi bà P là chủ hụi xác định bà O, ông T chỉ đóng hụi chết đến tháng 1/2014 âm lịch. Bà O, ông T đã hốt hụi thì có nghĩa vụ chứng minh đóng hụi chết, do không chứng minh được nên yêu cầu của bà P trong dây hụi thứ nhất 1 khui ngày 25/8/2011 âm lịch và dây hụi thứ 2 khui ngày 10/6/2012 âm lịch là có cơ sở nên được chấp nhận theo quy định tại Điều 30 cuûa Nghò ñònh soá 144/2006/NÑ-CP ngaøy 27/11/2006 veà hoï, huïi, bieâu, phöôøng. Dây hụi thứ nhất khui ngày 25/8/2011 bà O, ông T đóng hụi đến 25/01/2014 âm lịch là kỳ khui thứ 16 đến ngày mãn hụi là ngày 25/05/2015 âm lịch, vì vậy Buộc bà O, ông T trả cho bà P dây hụi thứ nhất 1 đến ngày mãn hụi là 9 kỳ x 02 phần x 3.000.000đồng = 54.000.000đồng; Dây hụi thứ hai khui ngày 10/6/2012 âm lịch bà O, ông T ngưng hụi lần khui thứ 11 là ngày 10/02/2014 âm lịch đến ngày mãn hụi là ngày 10/05/2016 âm lịch, vì vậy Buộc bà O, ông T trả cho bà P dây hụi thứ nhất 2 đến ngày mãn hụi là 14kỳ x 01 phần x 3.000.000đồng = 42.000.000đồng.
Đối với dây hụi thứ 3 khui ngày 30/11/2012 âm lịch, mệnh giá hụi là 3.000.000đồng; dây hụi thứ 4 khui ngày 15/9/2013 âm lịch, mệnh giá hụi là 1.000.000đồng và dây hụi thứ 6 khui ngày 25/8/2013 âm lịch, mệnh giá hụi là 200.000đồng thì bà P, bà O, ông T đã thống nhất với nhau về thời gian khui hụi, mệnh giá hụi, số kỳ mở hụi. Tuy nhiên về số phần hụi chơi không thống nhất, chủ hụi bà P cho rằng bà O, ông T trong hụi thứ 3 khui ngày 30/11/2012 âm lịch chỉ tham gia chơi 01 phần theo danh sách hụi (tại Bút lục số 49, 55) và đã hốt hụi; trong dây hụi thứ 4 khui ngày 15/9/2013 âm lịch chỉ tham gia chơi 02 phần theo danh sách hụi (tại Bút lục số 46, 53)và đã hốt hụi; trong dây hụi thứ 6 khui ngày 25/8/2013 âm lịch chỉ tham gia chơi 03 phần theo danh sách hụi (tại Bút lục số 45)và đã hốt hụi 02 phần. Bà O, ông T thì cho rằng ông, trong hụi thứ 3 khui ngày 30/11/2012 âm lịch tham gia chơi 02 phần trong đó có 01 phần đã hốt mang tên “ 6 Lệ Hoa”; trong dây hụi thứ 4 khui ngày 15/9/2013 âm lịch tham gia chơi 04 phần trong đó có 02 phần đã hốt mang tên “ 6 Lệ Hoa”; trong dây hụi thứ 6 khui ngày 25/8/2013 âm lịch tham gia chơi 05 phần trong đó có 02 phần đã hốt mang tên “ 6 Lệ Hoa”. Hội đồng xét xử xét thấy, Tại biên bản lấy lời khai ngày 08/12/2017 ( Bút lục 31) bà 6 Lệ Hoa tên thật là Nguyễn Thị Lệ Hoa, bà xác định không có chơi hụi của bà P, cũng không đi khui hụi hay chơi dùm ai hết. Tại Phiên tòa bà P trình bày quá trình khui hụi bà không thu gom phần hụi mang tên Lệ Hoa, bà O cũng không đóng hụi hộ dùm bà 6 Lệ Hoa. Do dó, không có cơ sở xác định bà “6 Lệ Hoa” tham gia chơi dùm bà O, ông T trong dây thứ 3, dây thứ 4 và dây thứ 6. Đối chiếu với danh sách hụi thì bà O, ông T chỉ chơi 01 phần trong dây 3, chơi 02 phần trong dây 4 và chơi 02 phần đã hốt trong dây thứa 6. Bà O, ông T thừa nhận đã hốt hụi trong các dây 3,4,6 thì có nghĩa vụ chứng minh đóng hụi chết còn lại , do không chứng minh được nên bà O, ông T đã vi phạm nghĩa vụ của người hụi viên không đóng hụi chết cho chủ hụi khi đến kỳ mở hụi.Vì vậy, bà O, ông T phải có nghĩa vụ trả bà P trong dây hụi thứ 3 ngày 30/11/2012 âm lịch là 17kỳ x 01 phần x 3.000.000đồng = 51.000.000đồng; trả dây hụi thứ 4 khui ngày 15/9/2013 âm lịch là 18kỳ x 02 phần x 1.000.000đồng = 36.000.000đồng; trả dây hụi thứ 6 khui ngày 25/8/2013 âm lịch là 30kỳ x 02 phần x 200.000đồng = 12.000.000đồng.
Đối với dây hụi thứ 5 khui ngày 05/04/2012 âm lịch, mệnh giá hụi là 3.000.000đồng thì bà P, bà O, ông T đã thống nhất với nhau về thời gian khui hụi, mệnh giá hụi, số kỳ mở hụi và số phần hụi tham gia. Tuy nhiên về số phần hụi đã hốt thì không thống nhất chủ hụi bà P cho rằng bà O, ông T chơi 04 phần đã hốt hết 04 phần và ngưng đóng hụi ở kỳ thứ 22; bà O, ông T cho rằng chơi 04 phần ( trong đó có 02 phần mang tên Te, Bé mèo) và đã hốt hết 03 phần và ngưng đóng hụi ở kỳ thứ 25. Tại phiên tòa bà P rút một phần yêu cầu của dây hụi này chỉ yêu cầu bà O, ông T trả lại 02 phần hụi do bà O chơi. Hội đồng xét xử xét thấy bà O thừa nhận mình hốt hụi rồi nhưng không chứng minh được bà đã đóng hụi chết đến kỳ khui thứ 25 thì ngưng . Vì vậy, bà O, ông T đã vi phạm nghĩa vụ của người hụi viên không đóng hụi chết cho chủ hụi khi đến kỳ mở hụi nên bà O, ông T phải có nghĩa vụ trả bà P trong dây hụi thứ 5 ngày 05/042012 âm lịch là 08kỳ x 02 phần x 500.000đồng = 8.000.000đồng.
Đối với dây hụi thứ 7 khui ngày 29/8/2013 ân lịch, vào thứ năm hàng tuần, mệnh giá hụi là 200.000đồng thì bà P, bà O, ông T đã thống nhất với nhau về thời gian khui hụi, mệnh giá hụi, số kỳ mở hụi và số phần hụi tham gia (trong đó bả O, ông T tham gia chơi 02 phần; bà 05 Tiệm chơi dùm 03 phần), tại tòa bà P yêu cầu bà O, ông T trả lại tiền hụi chết còn lại trong 02 phần đã hốt là 30kỳ x 02 phần x 200.000đồng = 12.000.000đồng. Bà O thừa nhận đã hốt hụi 02 phần của bà 5 Tiệm nhưng và ngưng đóng hụi ở kỳ khui thứ 35 nhưng không có chứng cứ chứng minh. Qua xác minh lấy lời khai bà 5 Tiệm ( bút lục 125) bà 5 Tiệm tên là Nguyễn Thị Mộng Trúc, bà xác định không có chơi hụi của bà P, cũng không đi khui hụi hay chơi dùm ai hết. Tại Phiên tòa bà P trình bày quá trình khui hụi bà không thu gom phần hụi mang tên 5 Tiệm, bà O cũng không đóng hụi hộ dùm bà 6 Lệ Hoa. Do dó, không có cơ sở xác định bà “5 Tiệm” tham gia chơi dùm bà O, ông T trong dây thứ 7. Yêu cầu của bà P trong dây hụi này có cơ sở nên được chấp nhận buộc bà O, ông T trả lại tiền hụi chết còn lại trong 02 phần đã hốt là 30kỳ x 02 phần x 200.000đồng = 12.000.000đồng.
Ông T thừa nhận có biết bà O chơi hụi của bà P, đồng thời giữa bà O, ông T là hôn nhân hợp pháp theo giấy chứng nhận kết hôn tại bút lục 121. vì vậy, ông T phải có nghĩa vụ liên đới cùng bà O trả nợ cho bà P là phù hợp.
Tổng cộng 07 dây hụi bà O, ông T phải liên đới trả lại tiền hụi cho bà P là 215.000.000đ( Hai trăm mười lăm triệu đồng). Ghi nhận bà P không yêu cầu tính lãi suất của số tiền nêu trên.
Xét yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Thúy O buộc bà P trả lại 117.500.000đồng trong các dây hụi thứ 3,4,5,6 và dây hụi thứ 7, Hội đồng xét xử xét thấy: tại phiên tòa bị đơn ông Trần Văn T đồng thời là người nhận ủy quyền của bà Nguyễn Thị Thúy O mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để xét xử nhưng ông Trần Văn T vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, tòa án đình chỉ yêu cầu phản tố của bị đơn Nguyễn Thị Thúy O là phù hợp với điểm c khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về án phí: Căn cứ Điều 147, 218 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Pháp lệnh án phí lệ phí Tòa án phí các bên phải chịu như sau:
Do yêu cầu của bà P được chấp nhận nên án phí bà O, ông T phải liên đới chịu là 215.000.000đ x 5% = 10.750.000đ (Mười lăm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Do yêu cầu phản tố của bà O bị đình chỉ nên sung công quy nhà nước số tiền tạm ứng án phí bà O đã nộp 2.937.500đ (Hai triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng) theo biên lai thu số 0005650 ngày 12/05/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Đại.
Vì caùc leõ treân;
QUYEÁT ÑÒNH:
Căn cứ vào các Điều 479, 298, 305, Boä luaät daân söï 2005; Điều 91, 92, 147, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 688 Bộ luật dân sự 2015; Ñieàu 29, 30 Nghò ñònh soá144/2006/NÑ-CP ngaøy 27/11/2006 cuûa Chính phuû veà hoï, huïi, bieâu, phöôøng; Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xöû:
1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị P đối với bà Nguyễn Thị Thúy O, ông Trần Văn T về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi.
Buộc bà Nguyễn Thị Thúy O, ông Trần Văn T phải có trách nhiệm liên đới trả cho bà Nguyễn Thị P số tiền hụi là 215.000.000đ( Hai trăm mười lăm triệu đồng).
2/ Đình chỉ yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Thúy O đối với bà Nguyễn Thị P về việc tranh chấp hợp đồng góp hụi.
Keå töø ngaøy baûn aùn coù hieäu löïc phaùp luaät vaø ngaøy bà P coù ñôn yeâu caàu thi haønh aùn, neáu bà Nguyễn Thị Thúy O, ông Trần Văn T chöa thi haønh khoaûn tieàn neâu treân, thì phaûi chòu laõi theo möùc laõi suaát tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015 töông öùng vôùi thôøi gian chaäm traû taïi thôøi ñieåm thanh toaùn.
4/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Nguyễn Thị Thúy O, ông Trần Văn T phải liên đới chịu là 10.750.000đ (Mười lăm triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Sung công quy nhà nước số tiền tạm ứng án phí bà Nguyễn Thị Thúy O đã nộp 2.937.500đ (Hai triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn năm trăm đồng) theo biên lai thu số 0005650 ngày 12/05/2017 của Chi cục thi hành án dân sự huyện B.
Tröôøng hôïp baûn aùn ñöôïc thi haønh theo quy ñònh taïi Ñieàu 2 luaät Thi haønh aùn daân söï thì ngöôøi ñöôïc thi haønh aùn daân söï, ngöôøi phaûi thi haønh aùn coù quyeàn thoûa thuaän thi haønh aùn, quyeàn yeâu caàu thi haønh aùn, töï nguyeän thi haønh aùn hoaëc bò cöôõng cheá thi haønh aùn theo quy ñònh taïi caùc Điều 6, 7 và Điều 9 luaät Thi haønh aùn daân söï, thôøi hieäu thi haønh aùn ñöôïc thöïc hieän theo quy ñònh taïi Ñieàu 30 luaät thi haønh aùn daân söï.
Bà nguyễn Thị P được khaùng caùo baûn aùn trong haïn möôøi laêm ngaøy keå töø ngaøy tuyeân aùn. Riêng bà Nguyễn Thị Thúy O, ông Trần Văn T vắng mặt cũng được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ./. Nôi nhaän:
| - TAND tænh (Phòng GĐKT); - VKSND huyeän B; - Chi cục THADS huyeän B; - Caùc ñöông söï; - Löu hoà sô vuï aùn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã Ký Lê Thị Thu Hương |