vanban.org

Bản án 23/2018/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 04/07/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V và Trần Quốc T"
  • Tòa quyết gì? 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 471 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU-TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 23/2018/DS-ST
Ngày 04 tháng 7 năm 2018
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU TP. ĐÀ NẴNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Cúc

- Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Công Chi

2/ Ông Ngô Văn Sỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thái Trâm Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Ngày 04 tháng 7 năm 2018 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2018/TLST-DS ngày 19 tháng 01 năm 2018 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2018/QĐXX-ST ngày 17 tháng 5 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2018/QĐST-DS ngày 05/6/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V. Địa chỉ: Tầng 2,Tòa nhà R, số 09 đường Đ, phường 12, quận 4, thành phố H.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G. Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Hiền T. Chức vụ: Trưởng phòng thu hồi nợ pháp lý – Trung tâm thu hồi nợ - Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V.

Người được ủy quyền:

- Ông Trƣơng Ngọc A– Sinh năm 1981. Địa chỉ: Số 353 đường N, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng (Theo văn bản ủy quyền số 8712/UQTA-VH.18 ngày 20/4/2018). Ông A có mặt.

2. Bị đơn: Ông Trần Quốc T– sinh năm 1996.

Địa chỉ: Tổ 93, phường H, quận L, thành phố Đ. Vắng mặt lần thứ hai.

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ. Địa chỉ: Số 80 Võ Văn Tần, phường 6, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đặng Diệp Đại K. Chức vụ: Tổng giám đốc. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 08/01/2018 và tại phiên tòa ông Trương Ngọc A là người đại diện theo ủy quyền của Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V trình bày:

Ngày 19/5/2016, ông Trần Quốc T ký hợp đồng tín dụng số 20160524-500000-4794 với Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V vay số tiền 21.100.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 3.75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, ông T có trách nhiệm thanh toán số tiền 35.798.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong 30 tháng, 29 tháng đầu mỗi tháng trả 1.184.000 đồng, tháng cuối cùng 1.462.000 đồng. Thanh toán vào ngày 01 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 01/7/2016.

Thực hiện hợp đồng ông T nhận đủ số tiền và thanh toán được 06 lần với số tiền 3.552.000 đồng (trong đó gốc là 1.109.424 đồng và lãi là 2.442.576 đồng). Kể từ ngày 12/09/2016 đến nay ông T không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Công ty đã nhiều lần nhắc nhở.

Tại phiên tòa hôm nay Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông Trần Quốc T phải trả số tiền 28.756.322 đồng (trong đó nợ gốc: 19.990.576 đồng, nợ lãi là 8.765.746 đồng) tính đến ngày 08/01/2018 và không yêu cầu lãi phát sinh tiếp theo.

* Bị đơn ông Trần Quốc T không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn cũng như không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ, đại diện theo pháp luật ông Đặng Diệp Đại K có Công văn số 074/2018/CV-VASS-TGĐ ngày 03/7/2018 trình bày:

Khách hàng Trần Quốc T tham gia bảo hiểm dư nợ tín dụng cá nhân tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ theo Thông tin Bảo hiểm Dư nợ tín dụng cá nhân số 20160524-500000-4794 với thời hạn bảo hiểm từ ngày 30/5/2016 đến ngày 29/11/2018, phí bảo hiểm là 1.100.000 đồng và đã được Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V thay mặt khách hàng thanh toán cho Bảo hiểm Đ vào ngày 23/6/2016. Theo thỏa thuận cũng như quy tắc bảo hiểm, trong thời hạn bảo hiểm Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ sẽ chi trả cho người thụ hưởng nếu sự kiện bảo hiểm xảy ra không thuộc điểm loại trừ và thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Người được bảo hiểm tử vong;

- Người được bảo hiểm bị thương tật toàn bộ vĩnh viễn;

- Người được bảo hiểm bị mất tích.

Đến nay, Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ chưa nhận được bất kỳ thông báo nào từ người được bảo hiểm, hoặc người thụ hưởng về việc phát sinh sự kiện bảo hiểm thuộc một trong các trường hợp trên. Vì vậy, không phát sinh trách nhiệm bảo hiểm của Công ty Bảo hiểm Đ theo hợp đồng bảo hiểm cũng như hợp đồng tín dụng được ký giữa Công ty tài chính TNHH một thành viên Ngân hàng V và ông Trần Quốc T. Công ty không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng và ông T. Do vậy đề nghị HĐXX không đưa Công ty CP Bảo hiểm Đ vào tham gia với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V và ông Trần Quốc T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho đương sự vắng mặt theo quy định tại Điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Tòa án đã triệu tập, niêm yết công khai Quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa đối với bị đơn là ông Trần Quốc T, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ, nhưng ông T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ vắng mặt. Vì vậy căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Trần Quốc T và Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ.

Về nội dung vụ án: Xét yêu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V đối với ông Trần Quốc T thì thấy:

Ngày 19/5/2016, ông Trần Quốc T ký hợp đồng tín dụng số 20160524-500000-4794 với Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V vay số tiền 21.100.000 đồng, lãi suất thỏa thuận 3.75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận tại hợp đồng, ông T có trách nhiệm thanh toán số tiền 35.798.000 đồng (gồm cả gốc và lãi), trả chậm trong 30 tháng, 29 tháng đầu mỗi tháng trả 1.184.000 đồng, tháng cuối cùng trả 1.462.000 đồng. Thanh toán vào ngày 01 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 01/7/2016.

Thực hiện hợp đồng ông T nhận đủ số tiền và thanh toán được 06 lần với số tiền 3.552.000 đồng (trong đó: tiền gốc 1.109.424 đồng và tiền lãi 2.442.576 đồng). Kể từ ngày 12/09/2016 đến nay ông T không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V đã nhiều lần nhắc nhở.

Tại phiên tòa, đại diện Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V yêu cầu ông Trần Quốc T trả một lần gồm gốc và lãi tính đến ngày 08/01/2018 là 28.756.322 đồng (Trong đó nợ gốc là 19.990.576 đồng, nợ lãi là 8.765.746 đồng, không yêu cầu lãi phát sinh tiếp theo.

Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thể hiện đến ngày 08/01/2018 ông T còn nợ Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V số tiền 28.756.322 đồng (Trong đó nợ gốc là 19.990.576 đồng, nợ lãi là 8.765.746 đồng). Xét yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V đối đối với ông Trần Quốc T là có căn cứ, phù hợp Điều 471, 474 Bộ luật Dân sự năm 2005 và khoản 2 Điều 91 luật các tổ chức tín dụng. Vì quá trình vay tiền ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V, buộc ông T phải trả cho Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V số tiền 28.756.322 đồng (Trong đó nợ gốc là 19.990.576 đồng, nợ lãi là 8.765.746 đồng) tính đến ngày 08/01/2018 và không yêu cầu lãi phát sinh tiếp theo nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.

Đối với Công ty Cổ phần Bảo hiểm Đ trình bày ý kiến Công ty không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V và ông Trần Quốc T. Do vậy đề nghị HĐXX không đưa Công ty CP Bảo hiểm Đ vào tham gia với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên Hội đồng xét xử không đề cập.

Án phí dân sự sơ thẩm:

Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn ông Trần Quốc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.4.37.816 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Điều 471, 474 Bộ luật dân sự năm 2005;

- Khoản 2 Điều 91 luật các tổ chức tín dụng;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án

phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V đối với ông Trần Quốc T về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

Xử:

1. Buộc ông Trần Quốc T phải trả cho Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V số tiền 28.756.322 đồng (trong đó: nợ gốc 19.990.576 đồng, nợ lãi 8.765.746 đồng).

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Trần Quốc T phải chịu 1.437.816 đồng (một triệu, bốn trăm ba mươi bảy ngàn, tám trăm mười sáu đồng).

Hoàn trả cho Công ty Tài chính Trách nhiệm Hữu hạn Một thành viên Ngân hàng V số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm 718.908 đồng (bảy trăm mười tám nghìn chín trăm lẻ tám đồng) theo biên lai thu số 0000916 ngày 18/01/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ khi người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Riêng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ