vanban.org

Bản án 23/2018/DS-PT — Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm...

TAND tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 23/01/2018 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 23/01/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp đất đai về đòi đất cho mượn, cho sử dụng nhờ, lấn chiếm... — án dân sự — "Nguyễn Hoàng A - Hồ Hoàng C"
  • Căn cứ chính? Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 296 Bộ luật Tố t ng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
T NHăSịCăTRĔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B n án số: 23/2018/DS-PT
Ngày 23-01-2018
V/v tranh ch p đòi lại đ t và nhà
cho ở nhờ.

C DANH

N CăC NGăHọAăXẩăH IăCH ăNGHƾAăVI TăNAM

TÒA ÁN NHÂN DÂNăT NHăSịCăTRĔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Nuôi.

Các Thẩm phán: 1/- Ông Nguyễn Khánh Hùng.

2/- Ông Nguyễn Văn Ngọt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vinh – Thư kỦ Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng: Ông Nguyễn Văn Sạch

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 23 tháng 01 năm 2018 tại tr sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai v án th lỦ số: 183/2017/TLPT-DS ngày 21 tháng 11 năm 2017 về việc: Tranh ch p đòi lại đ t và nhà cho ở nhờ.

Do b n án dân sự sơ thẩm số 29/2017/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2017 của Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng bị kháng nghị.

Theo Quyết định đưa v án ra xét xử phúc thẩm số: 293/2017/QĐ-PT ngày 12 tháng 12 năm 2017, giữa các đương sự:

1/- Nguyên đơn:

1.1. Ông Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1951;

1.2. Bà Võ Ngọc B, sinh năm 1959;

Cùng địa chỉ: Số 171, p A, thị tr n B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (bà B ủy quyền cho ông A đại diện, theo văn b n ủy quyền ngày 18/06/2016). (ông A có Đơn xin vắng mặt ngày 18/01/2018)

2/- Bị đơn:

2.1. Ông H Hoàng C, sinh 1971;

2.2. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1979;

Cùng địa chỉ: Số 171, p A, thị tr n B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (bà D y quyền cho ông C đại diện, theo văn b n y quyền ngày 18/08/2016). (ông C có mặt)

3/- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông H ăKỳăC1, sinh 2000; Địa chỉ: Số 171, p A, thị tr n B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

* Người đại diện theo ủy quyền của ông Hồ Kỳ C1: Ông H Hoàng C, sinh năm 1979; Địa chỉ: Số 171, p A, thị tr n B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (theo văn b n y quyền ngày 18/08/2016).

3.2. Chi c c Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Địa chỉ: p CA, thị tr n BA, huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

* Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đinh Trường G- Phó Chi c c trưởng Chi c c Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng (theo văn b n y quyền ngày 13/09/2017). (có mặt)

3.3. NgânăhàngăThươngămạiăcổăphầnăXYZ - ChiănhánhăSócăTrĕng; Địa chỉ: Số 73-75 đường A, phường X, thành phố Y, tỉnh Sóc Trăng.

* Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành H– C viên xử lỦ nợ, Ngân hàng Thương mai c phần XYZ - Chi nhánh Sóc Trăng; Địa chỉ: Số 73-75 đường A, phường X, thành phố Y, tỉnh Sóc Trăng (theo văn b n y quyền số 110/UQ-SOC.17 ngày 29/12/2017). (có mặt)

4/- Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

NỘIăDUNGăVỤăÁN:

1/- Nguyênăđơnătrìnhăbày: Ông A cùng vợ và bà Võ Thị B có 04 thửa đ t và cùng nhà, vật kiến trúc gắn liền trên các thửa đ t, tại số 171, p A, thị tr n B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, bao g m: Thửa 1226, 1670, 960, 958. Trong đó:

- Thửa 1226 tờ b n đ số 02, tọa lạc tại p A, thị tr n B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, do vợ ch ng ông nhận chuyển nhượng c a ông Sơn Ngọc L năm 2001, ông A và bà B cho con gái là Nguyễn Thị D đứng tên Gi y chứng nhận QSD đ t số R843034 được UBND huyện MT, tỉnh Sóc Trăng c p ngày 21/6/2001.

- Thửa 1670, tờ b n đ số 02, tọa lạc tại p A, thị tr n B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, do vợ ch ng ông nhận chuyển nhượng c a ông Thạch L năm 2005, ông A và bà B cho con gái là Nguyễn Thị D cùng con rể H Hoàng C đứng tên Gi y chứng nhận QSD đ t số BĐ788139 được UBND huyện C, tỉnh Sóc Trăng c p ngày 06/4/2011.

- Thửa 958 do vợ ch ng ông nhận chuyển nhượng từ ông LỦ H i Nx, chưa làm th t c tách thửa (có làm gi y tay), vợ ch ng ông nhờ con rể là H Hoàng C đứng tên c a bên nhận chuyển nhượng.

- Thửa 960 do vợ chồng ông nhận chuyển nhượng từ ông Sơn H i Bx, chưa làm thủ t c tách thửa (có làm gi y tay ), do vợ chồng ông đứng tên của bên nhận chuyển nhượng.

Các thửa 1226, 1670 và 958 vợ chồng ông chỉ nhờ con gái là D và con rể là C đứng tên dùm, nhưng đây là đ t của vợ chồng ông dùng tiền chuyển nhượng, nhà và vật kiến trúc gắn liền trên các thửa đ t do vợ chồng ông xây dựng nên thuộc quyền sử d ng và sở hữu của vợ chồng ông.

Do con gái và rể của ông làm ăn thua lỗ, nên đã thế ch p 2 thửa đ t cùng nhà của vợ chồng ông tại thửa 1226 và 1670 cho Ngân hàng XYZ Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng để vay tiền; đồng thời đây cũng là 2 thửa đ t mà Chi c c Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng tiến hành kê biên để thực hiện nghĩa v tr nợ mà con gái và con rể ông thiếu. Nhưng đây là đ t và nhà của ông, nên ông không đồng Ủ kê biên để tr nợ cho D và C.

Nay yêu cầu Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng gi i quyết: Buộc ông C và bà D tr lại toàn bộ các thửa đ t 1226; 1670; 958; 960, tờ b n đồ số 2, trên phần đ t có nhà và các công trình vật kiến trúc. Tọa lạc tại số 171, p A, thị tr n B huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

2/- B ăđơnătrìnhăbày: Cha mẹ tên Nguyễn Hoàng A và bà Võ Ngọc B trình bày về nguồn gốc của 04 thửa đ t (Thửa: 1226, 1670, 960 và 958) và nhà, vật kiến trúc trên các thửa đ t, tọa lạc tại số 171, p A, thị tr n B huyện C, tỉnh Sóc Trăng như trên là đúng.

Bị đơn thừa nhận làm ăn thua lỗ, nên đã thế ch p 2 thửa đ t cùng nhà của cha mẹ (Nguyễn Hoàng A và bà Võ Ngọc B) tại thửa 1226 và 1670 cho Ngân hàng XYZ Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng để vay tiền; đồng thời đây cũng là 2 thửa đ t mà Chi c c Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng tiến hành kê biên để thực hiện nghĩa v tr nợ mà vợ chồng bị đơn thiếu. Nhưng đây là đ t và nhà của cha mẹ, bị đơn đồng Ủ tr các thửa đ t, nhà và các công trình vật kiến trúc trên đ t theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Còn việc vợ chồng bị đơn thiếu nợ, thì sẽ có nghĩa v tr nợ, Chi c c Thi hành án dân sự không ph i kê biên bán đ t nhà của cha mẹ bị đơn.

3/- Ngườiăcóăquy năl iăvà nghƿaăv ăliênăquanăChiăc căThiăhànhăán dân sự huyệnăC,ătỉnhăSócăTrĕngătrìnhăbày: Bà D và ông C đang thực hiện nghĩa v thi hành án đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 13/2015/QĐST ngày 01/6/2015 của TAND huyện C, tỉnh Sóc Trăng và B n án dân sự phúc thẩm số 228/2015/DSPT ngày 19/11/2015 của TAND tỉnh Sóc Trăng, với số tiền là 756.687.600đ cùng tiền lãi chậm thi hành; án phí 2.700.000đ, Chi c c Thi hành án dân sự huyện C đã tiến hành thẩm định 02 thửa đ t 1226 và 1670 của bà D và ông C, đồng thời tiến hành xác minh thửa 960 và 958 là của ông C mua của ông Sơn H i Bx và LỦ H i Nx. Chi c c Thi hành án dân sự huyện C chuẩn bị kê biên tài s n để Thi hành án thì nhận được thông báo th lỦ v án của Tòa án. Chi c c Thi hành án dân sự huyện C yêu cầu ông C và bà D ph i thực hiện nghĩa v Thi hành án theo Quyết định, B n án đã có hiệu lực pháp luật mà Chi c c Thi hành án dân sự huyện C đang gi i quyết.

4/- Ng ờiăcóăquy năl iăvà nghƿaăv ăliênăquanăNgânăhàngăTh ơngăm iăcổă ph nă XYZ Chiă nhánhă Sócă Trĕngă trìnhă bày: Vào ngày 15/8/2015 Ngân hàng Thương mại c phần XYZ chi nhánh Sóc Trăng có cho bà Nguyễn Thị D và ông H Hoàng C vay số tiền 1.250.000.000 đ ng, tài s n đ m b o nợ vay bao g m r t nhiều thửa đ t trong đó có 02 thửa liên quan đến v án là thửa 1226 và 1670 do ông H Hoàng C và bà Nguyễn Thị D đứng tên trong Gi y chứng nhận quyền sử d ng đ t và 02 thửa này thế ch p đ m b o nợ vay là 364.510.000 đ ng. Nay theo yêu cầu c a ông A và bà B đòi lại thửa số 1226 và 1670 Ngân hàng không đ ng Ủ, vì đang thế ch p hợp pháp đ m b o nợ vay tại Ngân hàng Thương mại c phần XYZ Chi nhánh Sóc Trăng.

* Sự việc được Tòa án nhân dân huyện C th lỦ, gi i quyết. Tại b n án dân sự sơ thẩm số: 29/2017/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2017 đã quyết định:

- Áp d ng: Kho n 9 Điều 26; Điểm a kho n 1 Điều 35; Điểm a kho n 1 Điều 39; kho n 2 Điều 227; Điều 147; Kho n 1 Điều 273; Kho n 1 Điều 280 c a Bộ luật Tố t ng dân sự ;

- Áp d ng: Điều 255, Điều 256 Bộ luât dân sư;

- Áp d ng: Kho n 1 Điều 203 Luật đ t đai.

- Áp d ng: Kho n 2 Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

Ch p nhận một phần đơn yêu cầu c a ông Nguyễn Hoàng A, bà Võ Ngọc B khởi kiện ông H Hoàng C, bà Nguyễn Thị D về việc " Đòi lại đ t và nhà cho ở".

Buộc ông H Hoàng C, bà Nguyễn Thị D và ông H Kỳ C1 ph i tr lại một phần c a hai thửa đ t số: 960; 958, tờ b n đ số 2, trên đ t có nhà và các công trình vật kiến trúc. Tọa lạc tại số 171, p A, thị tr n B huyện C, tỉnh Sóc Trăng cho ông ông Nguyễn Hoàng A và bà Võ Ngọc B.

* Thửa đ t số: 960 ( một phần thửa 960), tờ b n đ số 02, tọa lạc tại số 171, p A, thị tr n B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, có số đo và vị trí như sau:

- Hướng Đông giáp thửa 1670 có số đo 4m;

- Hướng Tây giáp thửa 1226 có số đo 4m;

- Hướng Nam giáp một phần đ t thửa 960 có số đo 2,95m;

- Hướng Bắc giáp thửa 958 có số đo 3,18m;

- Diện tích:12,26m2 .

- Trên thửa đ t có các công trình như sau:

+ Một phần c a nhà 2: Ngang 4m, dài 02 cạnh: 2,95m và 3,18m. Kết c u: Nền lát gạch Cenramic, tường 10, mái tol, có trần thạch cao.

* Thửa đ t số: 958 ( một phần thửa 958 ), tờ b n đ số 02, tọa lạc tại số 171, p A, thị tr n B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng, có số đo và vị trí như sau:

- Hướng Đông giáp Kênh Hậu có số đo 2,1m;

- Hướng Tây giáp thửa 959 có số đo 2,1m;

- Hướng Nam giáp một phần đ t thửa 960 và thửa 1670 có số đo 27,19m;

- Hướng Bắc giáp thửa 958 có số đo 27,19m;

- Diện tích: 57,1m2 .

- Trên thửa đ t có các công trình như sau:

+ Một phần của nhà 2: Ngang 2,1m x dài 8,88m; Diện tích: 18,65m2; Kết c u: Nền lát gạch Cenramic, tường 10, mái tol, có trần thạch cao.

+ Tường rào 1: Xây tô cao 4m x dài 17,3m; Diện tích: 69,2m2.

+ Tường rào 2: Tường lửng gắn lưới B40, cao 2m x dài 4,9m; Diện tích: 9,8m2.

+ Mái tol 1: ngang 2,1m x dài 11,9m; Diện tích: 24,99m2; Kết c u: Mái tol, kết c u đỡ mái bằng thép.

+ Mái tol 2: ngang 1,67m x dài 5,4m; Diện tích: 9,02m2; Kết c u: Mái tol, kết c u đỡ mái bằng thép.

+ Mái tol 3: ngang 2,1m x dài 3,8m; Diện tích: 7,98m2; Kết c u: Mái tol, kết c u đỡ mái bằng thép.

+ Sân Xi măng: ( 2,1m x dài 21,1m) - ( 0,43m + 0,26m)/2 x 5,4m; Diện tích: 42,45m2; Kết c u: Sân tráng Xi măng có lót đá 4,6

+ Một phần nhà 3: Ngang: cạnh 1: 0,43m, cạnh 2: 0,26m; dài 5,4m; Diện tích: 1,86m2; Kết c u: Nền lát gạch Cenramic, tường 10, mái tol, có trần thạch cao, cửa sắt.

Bác một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả hai thửa đ t số: 1226, 1670, tờ bản đồ số 2, trên đ t có nhà, các công trình vật kiến trúc và hoa màu. Tọa lạc tại số 171, p A, thị tr n B huyện C, tỉnh Sóc Trăng.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về chi phí thẩm định, định giá, án phí dân sự sơ thẩm và thông báo quyền kháng cáo theo luật định.

* Ngày 12/10/2017 Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐKNPT-VKS-DS kháng nghị đối với bản án sơ thẩm, do c p sơ thẩm có những vi phạm sau đây:

Vi phạm về tố tụng: Khi giải quyết tranh ch p thửa đ t số 960 và thửa đ t số 1670 là sẽ ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của gia đình Thạch Sóc, Sơn Hải Bx và LỦ Hải Nx, nhưng Tòa án không xác minh để đưa những người này vào tham gia tố tụng là vi phạm khoản 4 điều 56 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2011. Tòa án chỉ tiến hành l y lời khai của ông Sơn Hải Bx (Bút lục số 124-125) và với ông LỦ Hải Nx (bút lục số 126-127) nhưng không ghi rõ ông A và ông Bx với tư cách gì và Thẩm phán hỏi ông A và ông Bx “có yêu cầu tham gia với tư cách người liên quan hay không” là không hợp lỦ, không đúng với quy định của pháp luật.

Vi phạm về nội dung:

- Xem xét về việc ai là người được quyền sử dụng hợp pháp đối với các thửa đ t số 1226, 1670, 960 và 958. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 29/2017/DS-ST ngày 25/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Sóc Trăng Hội đồng xét xử khẳng định các thửa đ t số 1226, 1670 là của ông Hồ Hoàng C và bà Nguyễn Thị D và bác yêu cầu của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng A và bà Võ Ngọc B về việc buộc bị đơn ông Hồ Hoàng C và bà Nguyễn Thị D trả lại các thửa đất số 1226, 1670 là đúng pháp luật.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xác định các thửa đất số 960, 958 là của nguyên đơn ông Nguyễn Hoàng A và bà Võ Ngọc B và buộc bị đơn ông Hồ Hoàng C và bà Nguyễn Thị D trả lại các thửa đất số 960, 958 là chưa có tính thuyết phục. Bởi lẽ:

+ Đối với thửa đất số 958 và 960, tại biên bản hòa giải ngày 15/6/2016 (BL 131-135) ông A, bà B và ông C, bà D thừa nhận là thửa 956 ông A, bà B nhận chuyển nhượng từ ông LỦ Hải Nx, có viết giấy tay do ông C đứng tên (nhưng trong hồ sơ đương sự không cung cấp giấy viết tay này) và thửa 960 ông A, bà B nhận chuyển nhượng từ ông Sơn Hải Bx, có viết giấy tay do ông A đứng tên. Còn tại biên bản hòa giải ngày 19/9/2016 (BL 194a-198) bà Trần Thị Ánh Tuyết (Đại diện theo ủy quyền của Chi cục Thi hành án huyện C) xác nhận: Trước khi Tòa án thụ lỦ giải quyết vụ án này thì Chi cục Thi hành án huyện C có thụ lỦ giải quyết thi hành án đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 13/2015/QĐ-ST ngày 01/6/2015 của TAND huyện C và Bản án dân sự phúc thẩm số 228/2015/DS-PT ngày 19/11/2015 của TAND tỉnh Sóc Trăng. Theo Quyết định và Bản án nêu trên thì ông C, bà D có nghĩa vụ thi hành án số tiền 756.687.600 cùng tiền lãi chậm thi hành án, án phí 2.700.000 đồng. Chi cục Thi hành án đã tiến hành xác minh thì được ông LỦ Hải Nx xác nhận đã chuyển nhượng một phần đất của thửa 958 (phần diện tích đất đang tranh chấp) cho ông Hồ Hoàng C và bà Nguyễn Thị D và được ông Sơn Hải Bx xác nhận có thỏa thuận giấy tay đổi một phần đất của thửa 960 (phần diện tích đất đang tranh chấp) của ông đổi với ông Hồ Hoàng C và bà Nguyễn Thị D ngang 04m, dài 1,8m để liền canh liền cư, hiện nay ông C, bà D đang cất nhà để ở (Kèm theo biên bản xác minh điều kiện thi hành án ngày 23/10/2015 và ngày 24/10/2015 của Chi cục Thi hành án huyện C).

+ Từ những tình tiết nêu trên có cơ sở xác định phần diện tích đất đang tranh chấp (là một phần của thửa đất số 958) là của ông LỦ Hải Nx chuyển nhượng cho vợ chồng ng Hồ Hoàng C và bà Nguyễn Thị D, chứ không phải ông Nx chuyển nhượng cho ông Nguyễn Hoàng A và ông A nhờ ông C đứng tên dùm; Đối với diện tích đất đang tranh chấp (là một phần của thửa đất số 960) là chuyển đổi cho cho ông Nguyễn Hoàng A hay đổi đất với ông Hồ Hoàng C và bà Nguyễn Thị D, nếu có việc ông A đổi đất với ông C, bà D thì phần đất ông A được nhận lại của ông C, bà D là ở đâu? Đất đó trước khi đổi có phải là của ông C, bà D hay không? Hội đồng xét xử sơ thẩm chưa làm rõ vấn đề này mà lại công nhận phần diện tích đất đang tranh chấp là của ông Nguyễn Hoàng A, là chưa thỏa đáng.

- Xem xét ai là người được quyền sở hữu căn nhà được xây dựng trên các thửa đất số 1226, 1670, 958, 960. Trên các thửa đất số 1226, 1670, 958, 960 tọa lạc tại ấp A, thị B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (đang tranh chấp) có căn nhà được xây dựng kiên cố (nhà mang số 171), Hội đồng xét xử tuyên: Bác một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả hai thửa đất số 1226, 1670, tờ bản đồ số 02, trênăđ tăcóănhà,ăcácăcôngătrìnhăv tăki nătrúcăvàăhoaămàu…Việc tuyên án nêu trên chỉ mới đúng một phần. Bởi lẽ:

Thứ nh t: Ông Nguyễn Hoàng A và bà Võ Ngọc B cho rằng là c a ông bà và yêu cầu ông H Hoàng C và bà Nguyễn Thị D tr lại cho ông A, bà B, nhưng trong suốt quá trình Tòa án th lỦ, gi i quyết v án phía ông A, bà B không có cung c p được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh căn nhà nêu trên thuộc sở hữu c a ông bà.

Thứ hai: Theo biên b n xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 25/7/2017 (BL 382-386) thể hiện diện tích c a căn nhà như sau:

+ Trên thửa đ t số 1226, có căn nhà 1: ngang 4m, dài 9,4m = 37,6m2; căn nhà 2: ngang 4m, dài 18,5m = 74m2. T ng diện tích nhà trên thửa đ t số 1226 là 111,6m2. Kết c u: nền lát gạch Cenramic, tường 10, mái tol, cửa sắt, có trần thạch cao.

+ Trên một phần thửa đ t số 960, có một phần c a căn nhà 2: ngang 4m, dài 2 cạnh 2,95m và 3,18m = diện tích là 12,26m2. Kết c u: nền lát gạch Cenramic, tường 10, mái tol, có trần thạch cao.

+ Trên thửa đ t số 1670, có một phần c a căn nhà 2: ngang 9m, dài 5,7m = 51,3m2. Kết c u: nền lát gạch Cenramic, tường 10, mái tol, có trần thạch cao; một phần căn nhà 3: diện tích (5,4 x 6,3) + (7,7 x 2,85) – (0,43 + 0,26)/2 x 5,4) = 54,11m2. T ng diện tích nhà trên thửa đ t số 1670 là 105,41m2. Kết c u: nền lát gạch Cenramic, tường 10, mái tol, cửa sắt kính nhâm, có trần thạch cao.

+ Trên một phần thửa đ t số 958, có một phần c a căn nhà 2: ngang 2,1m, dài 8,8m = 18,65m2; một phần c a căn nhà 3: ngang: cạnh 1: 0,43m, cạnh 2: 0,26m, dài 5,4m = 1,86m2. T ng diện tích nhà trên thửa đ t số 958 là 20,51m2. Kết c u: nền lát gạch Cenramic, tường 10, mái tol, cửa sắt, có trần thạch cao.

Như vậy, t ng diện tích căn nhà nằm trên 04 thửa đ t số 1226, 960, 1670 và 958 là 111,6m2 + 12,26m2 + 105,41m2 + 20,51m2 = 249,78m2.

Từ phân tích trên cho th y, t ng thể căn nhà có diện tích sử d ng là 249,78m2, trong đó g m 03 căn nhà (căn nhà 1, 2 và 3), một phần căn nhà nằm trên thửa đ t số 960 là thuộc căn nhà 2 nhưng là điểm nối liền giữa căn nhà 1 và căn nhà 2 (diện tích là 12,26m2), một phần căn nhà nằm trên thửa đ t số 958 là thuộc một phần căn nhà 2 và một phần căn nhà 3 (có t ng diện tích là 20,51m2), nằm ở một cạnh hướng Bắc c a căn nhà, t ng diện tích nhà nằm trên thửa 960 và 958 là 32,77m2 . Như vậy, t ng diện tích nhà nằm trên thửa 960 và 958 là 32,77m2 chỉ bằng 13,12% (32,77m2/249,78m2) trên t ng thể căn nhà nằm trên 04 thửa 1226, 1670, 958, 960. Từ đó cho th y, trên thực tế không thể x y ra tình trạng một căn nhà mà hai ch sở hữu cùng đầu tư xây dựng (một người xây dựng và sở hữu 13,12% (ông A, bà B), một người xây dựng và sở hữu 86,88% (ông C, bà D), mà 13,12% căn nhà do ông A, bà B sở hữu lại cắt ngang (phân chia) giữa căn nhà (nhà 1) và (nhà 2) c a người sở hữu 86,88% căn nhà là căn nhà c a ông C, bà D.

Gi sử, các thửa đ t số 960, 958 và một phần căn nhà trên các thửa đ t này là c a ông A, bà B thì cũng chỉ có thể n định cho ông C, bà D được quyền sở hữu, sử d ng và có trách nhiệm hoàn lại cho ông A, bà B giá trị QSD đ t và giá trị nhà, chứ không thể tuyên như b n án đã tuyên nêu trên, sẽ gây b t lợi và khó khăn cho ông C, bà D khi sử d ng căn nhà.

Mặt khác, trước khi ông A, bà B khởi kiện ông C, bà D để đòi lại nhà, đ t nêu trên thì ông C, bà D đã ph i thi hành án đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 13/2015/QĐ-ST ngày 01/6/2015 của TAND huyện C và B n án dân sự phúc thẩm số 228/2015/DS-PT ngày 19/11/2015 của TAND tỉnh Sóc Trăng với số tiền 756.687.600 cùng tiền lãi chậm thi hành án, án phí 2.700.000 đ ng. Qua việc xác minh điều kiện thi hành án của ông C, bà D biết được, ngoài căn nhà và 04 thửa đ t nêu trên ông C, bà D không còn tài s n nào khác để thi hành Quyết định và B n án nêu trên.

Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm theo hướng áp d ng kho n 2 Điều 308 và Điều 309 của Bộ luật tố t ng dân sự năm 2015 để sửa một phần b n án.

* Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn vắng mặt và không có Ủ kiến gì về đơn khởi kiện, nên xem như không rút đơn khởi kiện; Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng; Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc gi i quyết v án.

* Kiểm sát viên phát biểu Ủ kiến của Viện kiểm sát về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng nghị, về việc tuân thủ và ch p hành pháp luật tố t ng của những người tiến hành tố t ng và tham gia tố t ng trong quá trình gi i quyết v án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm; Đ ng thời, phát biểu quan điểm về nội dung kháng nghị, đề nghị Hội đ ng xét xử ch p nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng và áp d ng kho n 2 Điều 308 và Điều 309 Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015 sửa b n án sơ thẩm.

NHẬNăĐỊNHăCỦAăTọAăÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong h sơ v án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết qu tranh t ng, Ủ kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên, những người tham gia tố t ng khác, Hội đ ng xét xử nhận định:

[I] Về tố tụng:

[1] Nội dung, hình thức quyết định và thời hạn kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng là đúng theo quy định tại các Điều 279 và Điều 280 Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015, nên kháng nghị hợp lệ và đúng theo luật định.

[2] Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa phúc thẩm và có đơn xin vắng mặt. Do vậy, Hội đ ng xét xử căn cứ kho n 3 Điều 296 Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015, tiến hành xét xử v án.

[3] Theo các tài liệu, chứng cứ có trong h sơ v án và các đương sự thừa nhận thì thể hiện diện tích đ t tại thưa số 1226 và 1670 nhận chuyển nhượng của ông Sơn Ngọc L năm 2001 và c a c a ông Thạch L năm 2005, các bên đã hoàn t t th t c, UBND huyện MT đã c p Gi y chứng nhận QSD đ t số R843034 ngày 21/6/2001 (thưa số 1226) cho bà Nguyễn Thị D và UBND huyện C c p Gi y chứng nhận QSD đ t số BĐ788139 ngày 06/4/2011 (thưa số 1670) cho Nguyễn Thị D và H Hoàng C; diện tích một phần thửa 958 và 960 nhận chuyển nhượng từ ông LỦ H i Nx và chuyển đ i từ ông Sơn H i Bx (ông Bx nhận chuyển nhượng c a ông Thạch Sx), chỉ lập gi y tay, chưa làm th t c tách thửa. Đối với một phần thửa 958 và 960 nhận chuyển nhượng, chuyển đ i tuy làm gi y tay và chưa làm th t c tách thửa, nhưng bên chuyển nhượng, chuyển đ i và bên nhận chuyển nhượng (kể c ông Sx chuyển nhượng cho ông Bx), chuyển đ i đều không tranh ch p hoặc khiếu nại, tại Biên b n l y l y lời khai ngày 15/6/2016 (BL 124) và ngày 25/6/2016 (BL 126) ông Sơn H i Bx và ông LỦ H i Nx đều xác nhận đ t đã chuyển đ i, chuyển nhượng và họ không có Ủ kiến khiếu nại hoặc tranh ch p, nên xác định ông Bx, ông Nx là người làm chứng và việc gi i quyết v án không liên quan hay nh hưởng gì đến quyền và lợi ích hợp pháp hoặc nghĩa v c a ông Bx, ông Nx và ông Sx. Do đó, c p sơ thẩm không đưa ông Sơn H i Bx, LỦ H i Nx vào tham gia tố t ng với tư cách người có quyền lợi nghĩa v liên quan là không vi phạm quy định tại kho n 4, Điều 56 Bộ luật Tố t ng dân sự 2011 (tương ứng kho n 4 điều 68 Bộ luật Tố t ng dân sự 2015).

[II] Về nội dung:

[1] Nguyên đơn Nguyễn Hoàng A, Võ Ngọc B và bị đơn H Hoàng C, Nguyễn Thị D đều thừa nhận các thửa đ t số 1226, 1670, 960, 958 và nhà ở, vật kiến trúc gắn liền trên các thửa đ t, tại số 171, pA, thị tr n B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền sở hữu, sử d ng c a nguyên đơn. Thửa đ t số 1226 nguyên đơn nhận chuyển nhượng c a ông Sơn Ngọc L năm 2001, bị đơn Nguyễn Thị D đứng tên và được UBND huyện MT c p Gi y chứng nhận quyền sử d ng đ t số R843034 ngày 21/6/2001. Thửa đ t số 1670 nguyên đơn nhận chuyển nhượng c a ông Thạch L năm 2005, bị đơn Nguyễn Thị D và H Hoàng C đứng tên và được UBND huyện C c p Gi y chứng nhận quyền sử d ng đ t số BĐ788139 ngày 06/4/2011. Một phần diện tích thửa đ t số 958 nguyên đơn nhận chuyển nhượng c a ông LỦ H i Nx, chưa làm th t c tách thửa (có làm gi y tay), bị đơn H Hoàng C đứng tên bên nhận chuyển nhượng. Một phần diện tích thửa đ t số 960 nguyên đơn nhận chuyển đ i c a ông Sơn H i Bx, chưa làm th t c tách thửa (có làm gi y tay ), nguyên đơn đứng tên c a bên nhận chuyển nhượng. Bị đơn đ ng Ủ giao tr tài s n và quyền sử d ng đ t theo yêu cầu khởi kiện c a nguyên đơn.

[2] Tuy nhiên, các thửa đ t số 1226, 1670 và một phần diện tích thửa đ t số 958, 960, cùng nhà ở, vật kiến trúc gắn liền trên các thửa đ t do bị đơn qu n lỦ sử d ng, vào năm 2015 vợ ch ng bị đơn thế ch p 2 thửa đ t (thửa đ t số 1226 và 1670) cùng nhà ở gắn liền trên đ t cho Ngân hàng XYZ Chi nhánh tỉnh Sóc Trăng để vay tiền (nguyên đơn biết, đ ng Ủ, không ph n đối) và đây cũng chính là 2 thửa đ t mà Chi c c Thi hành án Dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng tiến hành kê biên để thực hiện nghĩa v Thi hành án đối với bị đơn D và C theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận c a các đương sự số 13/2015/QĐST ngày 01/6/2015 c a TAND huyện C, tỉnh Sóc Trăng và B n án dân sự phúc thẩm số 228/2015/DSPT ngày 19/11/2015 c a TAND tỉnh Sóc Trăng, với số tiền ph i thi hành là 756.687.600đ ng, cùng tiền lãi chậm thực hiện nghĩa v thi hành án và án phí dân sự 2.700.000đ ng. Trong quá trình Thi hành án các nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án yêu cầu các bị đơn tr lại toàn bộ tài s n gắn liền với các thửa đ t tranh ch p nêu trên, trong đó có hai thửa đ t số 1226 và số 1670, nên Chi c c Thi hành án Dân sự huyện C tạm ngừng việc Thi hành án. Tại quyết định c a B n án dân sự sơ thẩm số 29/2017/DS-ST ngày 25/09/2017 c a Tòa án nhân dân huyện C, tuyên xử ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện c a nguyên, buộc các bị đơn giao tr cho nguyên đơn diện tích đ t tranh ch p một phần thửa 958 diện tích 57,1m2 và một phần thửa 960 diện tích 12,26m2, cùng một phần nhà ở (chiếm tỷ lệ 13% nhà ở) gắn liền trên diện tích đ t giao tr ; không ch p yêu cầu khởi kiện c a nguyên đơn về việc đòi lại thửa đ t số 1226 và thửa đ t số 1670, cùng toàn bộ tài s n gắn liền trên đ t như nhà ở (chiếm tỷ lệ 87% nhà ở) và vật kiến trúc. Sau khi xét xử sơ thẩm các nguyên đơn và các bị đơn đều không kháng cáo và thống nh t theo quyết định c a b n án sơ thẩm; nên nguyên đơn và bị đơn mặc nhiên thừa nhận toàn bộ quyền sử d ng đ t thửa đ t số 1226 và thửa đ t số 1670, cùng toàn bộ tài s n nhà ở (chiếm tỷ lệ 87% nhà ở) và vật kiến trúc gắn liền trên đ t thuộc sở hữu, sử d ng c a bị đơn C và D; thừa nhận một phần quyền sử d ng đ t thửa đ t số 958 diện tích 57,1m2 và thửa đ t số 960 diện tích 12,26m2, cùng môt phần tài s n nhà ở (chiếm tỷ lệ 13% nhà ở) thuộc sở hữu, sử d ng c a nguyên đơn A và Hà.

[3] Theo nội dung kháng nghị c a Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng cho rằng Tòa án nhân p sơ thẩm tuyên buộc bị đơn H Hoàng C và Nguyễn Thị D giao tr cho nguyên đơn Nguyễn Hoàng A và Võ Ngọc B một phần các thửa đ t số 958 và 960, cùng tài s n gắn liền với đ t là chưa đúng quy định. Xét th y, trong quá trình Thi hành án đối với Quyết định công nhận sự thỏa thuận c a các đương sự số 13/2015/QĐST ngày 01/6/2015 c a TAND huyện C, tỉnh Sóc Trăng và B n án dân sự phúc thẩm số 228/2015/DSPT ngày 19/11/2015 c a TAND tỉnh Sóc Trăng mà các bị đơn ph i có nghĩa v thi hành, Chi c c Thi hành án dân sự huyện C có tiến hành xác minh điều kiện thi hành án và Thẩm định tài s n thi hành án, tại Biên b n xác minh điều kiện thi hành án ngày 23/10/2015 (Bút l c số 432) ông LỦ H i Nx xác nhận “Ông là chủ thửa đất số 958, tờ bản đồ số 02, tọa lạc tại ấp A, thị trấn B, ông thừa nhận ông có bán giấy tay cho ông Hồ Hoàng C và bà Nguyễn Thị D 01 phần đất của thửa 958, ngan 2m, dài 20m, hiện nay ông C và bà D đang cất nhà ở” và Biên b n xác minh điều kiện thi hành án ngày 24/10/2015 (Bút l c số 433) bà Trần Thị Liên (vợ ông Sơn H i Bx) xác nhận “phần đất của bà thửa số 960, tọa lạc tại ấp A, thị trấn B, bà với ông Hồ Hoàng C và Nguyễn Thị D có thỏa thuận giấy tay đổi 01 phần đất thuộc thửa số 960 ngang 4m, dài 1,8m để liền canh, liền cư, hiện nay ông C và bà D đang cất nhà để ở”. Đ ng thời, tại Biên b n thẩm định tài s n thi hành án ngày 26/8/2015 đối với bị đơn H Hoàng C và Nguyễn Thị D, tài s n thẩm định thể hiện quyền sử d ng đ t thửa đ t số 1226, 1670 và một phần thửa đ t số 958, 960, cùng tài s n nhà ở và vật kiến trúc gắn liền trên đ t, có nguyên đơn Nguyễn Hoàng A chứng kiến việc thẩm định, cuối biên b n thẩm định (bút l c số 37) nguyên đơn Nguyễn Hoàng A có ý kiến “tài sản nằm trên đất của thửa nêu trên là hoàn toàn của tôi, nếu có tranh chấp thì nhờ chính quyền địa phương giải quyết quyền lợi cho tôi”, nguyên đơn A không khiếu nại hoặc có Ủ kiến gì đối với các thửa đ t (thửa số 1226, 1670, 958 và 960). Nhưng khi khởi kiện nguyên đơn cho rằng các thửa đ t và tài s n trên đ t là c a mình và yêu cầu bị đơn giao tr , nguyên đơn cung c p cho Tòa án nhân p sơ thẩm Gi y thỏa thuận (V/v đ i đ t th cư) ngày 09/09/2009 (không có công chứng, chứng thực theo quy định) và người làm chứng như ông LỦ H i Nx, ông Sơn H i Bx để chứng minh; tuy ông Nx và ông Bx đều xác nhận một phần thửa đ t số 958, 960 là chuyển nhượng, chuyển đ i với nguyên đơn và có lập Gi y thỏa thuận (V/v đ i đ t th cư) ngày 09/09/2009, nhưng lời xác nhận c a ông Nx và ông Bx mâu thuẫn với lời xác nhận trước đó c a ông Nx và bà By (vợ ông Bx) như đã nêu trên, nên lời xác nhận này không đ m b o tính khách quan, trung thực; vì lời xác nhận trước đó c a ông Nx và bà By thì giữa nguyên đơn với bị đơn chưa phát sinh tranh ch p, nên không bị nh hưởng và đ m b o tính khách quan, trung thực. Do vậy, lời xác nhận c a người làm chứng Nx và Bx, Gi y thỏa thuận (V/v đ i đ t th cư) ngày 09/09/2009 không đ m b o tính khách quan và không thỏa mãn theo quy định tại Điều 93 Bộ luật Tố t ng dân sự, nên không xác định là chứng cứ để chứng minh theo quy định tại kho n 1 và 5 Điều 95 Bộ luật Tố t ng dân sự. Từ những căn cứ như đã nêu trên, c p sơ thẩm xác định một phần các thửa đ t số 958 và 960 c a nguyên đơn là chưa đ căn cứ. Tuy nhiên, trong quá trình xét xử sơ thẩm bị đơn thừa nhận c a nguyên đơn và đ ng Ủ giao tr , tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn tiếp t c thừa nhận c a nguyên đơn và yêu cầu xin tr giá trị quyền sử d ng đ t cho nguyên đơn, nên Hội đ ng xét xử ghi nhận và ch p nhận.

Đối với tài s n gắn liền với thửa đ t số 958 (một phần căn nhà 2) và thửa đ t số 960 (là một phần c a nhà 2 và một phần nhà 3) là một phần nhà ở (chiếm tỷ lệ 13,12% nhà ở tranh ch p) và một phần vật kiến trúc như quyết định c a b n án sơ thẩm, c p sơ thẩm xác định thuộc quyền sở hữu c a nguyên đơn nên đã buộc bị đơn ph i giao tr các tài s n này cho nguyên đơn là không chính xác và không đúng pháp luật. Bởi lẽ, về nguyên tắc xây dựng là ch đầu tư (ch nhà) ph i xây dựng toàn bộ căn nhà ở và vật kiến trúc liền theo nhà ở, chứ không ch đầu tư nào xây dựng một phần nhà ở (chiếm 13,12% nhà ở), trong quá trình gi i quyết v án nguyên đơn cũng không đưa ra được chứng cứ để chứng minh các căn nhà ở và vật kiến trúc là do mình đầu tư xây dựng, nên sau khi xét xử c p sơ thẩm xác định tài s n c a nguyên đơn là một phần căn nhà 2, một phần căn nhà 3 gắn liền trên 2 thửa đ t đ t 958 và 960 (chiếm tỉ lệ 13,12% nhà ở), tài s n c a bị đơn phần nhà ở còn lại (chiếm tỉ lệ 86,88% nhà ở) và vật kiến trúc gắn liền thì nguyên đơn và bị đơn ch p nhận. Đ ng thời, nếu thật sự đúng một phần nhà ở là c a nguyên đơn như c p sơ thẩm xác định, thì c p sơ thẩm tuyên buộc bị đơn tr như quyết định c a b n án sơ thẩm thì không thể cắt tr và không thi hành án được. Do đó, nhà ở, vật kiến trúc và tài s n gắn liền trên đ t thuộc quyền sỡ hữu, sử d ng c a bị đơn chứ không ph i c a nguyên đơn như nguyên đơn khởi kiện.

[4] Từ những nhận định và phân tích nêu trên, Hội đ ng xét xử nhận th y kháng nghị c a Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng về nội dung là có căn cứ và phù hợp với quy định c a pháp luật nên được Hội đ ng xét xử ch p nhận, về tố t ng là chưa có căn cứ.

Án phí dân sự phúc thẩm các đương sự không ph i chịu, do b n án sơ thẩm bị sửa nên Hội đ ng xét xử xác định lại nghĩa v chịu án phí dân sự sơ thẩm và chi phí định giá tài s n, thẩm định giá theo quy định tại Điều 147, 165 Bộ luật Tố t ng dân sự và Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a y ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lỦ và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUY TăĐ NH:

Căn cứ vào kho n 2 Điều 308, Điều 147, kho n 2 Điều 148, Điều 165 và kho n 6 Điều 313 Bộ luật Tố t ng dân sự năm 2015;

Áp d ng Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a y ban thường v Quốc hội quy định về mức thu, miễn, gi m, thu, nộp, qu n lỦ và sử d ng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Ch p nhận một phần Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 04/QĐKNPT-VKS-DS ngày 12/10/2017 c a Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

2. Sửa b n án dân sự sơ thẩm 29/2017/DS-ST ngày 25 tháng 9 năm 2017 c a Toà án nhân dân huyện C đã gi i quyết v án về việc: “Tranh ch p đòi lại đ t và nhà cho ở nhờ”, như sau:

2.1/- Ch p nhận một phần yêu cầu khởi kiện c a nguyên đơn Nguyễn Hoàng A và Võ Ngọc B về việc đòi bị đơn H Hoàng C và Nguyễn Thị D giao tr đ t tranh ch p một phần diện tích thửa 958 và thửa 960.

n định cho bị đơn H Hoàng C và Nguyễn Thị D tiếp t c sử d ng một phần diện tích thửa 958 và thửa 960, tờ b n đ số 2, tọa lạc tại số 171, p A, thị tr n B, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Diện tích, vị trí và tứ cận các thửa đ t như sau:

* Thửa đ t số: 958 (Diện tích: 57,1m2), có số đo và vị trí.

- Hướng Đông giáp Kênh Hậu có số đo 2,1m;

- Hướng Tây giáp thửa 959 có số đo 2,1m;

- Hướng Nam giáp một phần đ t thửa 960 và thửa 1670 có số đo 27,19m;

- Hướng Bắc giáp thửa 958 có số đo 27,19m.

* Thửa đ t số: 960 (Diện tích:12,26m2), có số đo và vị trí.

- Hướng Đông giáp thửa 1670 có số đo 4m;

- Hướng Tây giáp thửa 1226 có số đo 4m;

- Hướng Nam giáp một phần đ t thửa 960 có số đo 2,95m;

- Hướng Bắc giáp thửa 958 có số đo 3,18m;

Buộc bị đơn Hồ Hoàng C và Nguyễn Thị D có nghĩa vụ trả giá trị quyền sử dụng đất cho nguyên đơn Nguyễn Hoàng A và Võ Ngọc B với số tiền 5.202.000đồng.

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, nguyên đơn Nguyễn Hoàng A và Võ Ngọc B có đơn yêu cầu Thi hành án thì bị đơn Hồ Hoàng C và Nguyễn Thị D phải thực hiện nghĩa vụ hoàn trả đủ số tiền nêu trên cho nguyên đơn theo quy định của Luật Thi hành án dân sự. Nếu bị đơn Hồ Hoàng C và Nguyễn Thị D không thực hiện thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.

2.2/- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Nguyễn Hoàng A và Võ Ngọc B về việc buộc ông Hồ Hoàng C và bà Nguyễn Thị D trả lại toàn bộ diện tích quyền sử dụng đất (thửa 1226 và 1670) và toàn bộ tài sản gắn liền trên các thửa đất 1226, 1670, 958, 960, tờ bản đồ số 2, tọa lạc tại số 171, ấp A, thị trấn B huyện Châu, Thành, tỉnh Sóc Trăng.

2.3/- Về án phí dân sự sơ thẩm:

+ Nguyên đơn Nguyễn Hoàng A và bà Võ Ngọc B phải chiu 200.000đồng ( Hai trăm ngàn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 200.000đ ( Hai trăm ngàn đồng) theo biên lai số 008181 ngày 30/10/2015 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Như vậy, nguyên đơn Nguyễn Hoàng A và bà Võ Ngọc B đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

+ Bị đơn ông Hồ Hoàng C và bà Nguyễn Thị D phải chiu 260.100đồng ( Hai trăm sáu mươi ngàn, một trăm đồng).

2.4/- Về chi phí thẩm định đo đạc và định giá tài sản: Tổng cộng 3.400.000đồng (Ba triệu bốn trăm ngàn đồng); Nguyên đơn Nguyễn Hoàng A, Võ Ngọc B và bị đơn Hồ Hoàng C, Nguyễn Thị D mỗi bên phải chịu là 1.700.000 đồng, nguyên đơn Nguyễn Hoàng A và bà Võ Ngọc B đã nộp xong chi phí thẩm định đo đạc và định giá, bị đơn Hồ Hoàng C và Nguyễn Thị D nộp 1.700.000 đồng hoàn trả cho nguyên đơn Nguyễn Hoàng A và bà Võ Ngọc B.

3. Án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.

4. Bản án này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014), thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

TM.ăH IăĐ NGăXÉTăXỬăPHÚCăTH M

TH MăPHÁNăậ CH ăT AăPHIÊNăTọA

Cỡ chữ