vanban.org

Bản án 229/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Tuyên bố bị cáo Vƣơng Văn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

2/Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu bạc đen, BKS: 98B1-403.53 Cơ quan cảnh sát điều tra tách ra để xử lý sau theo đúng quy định của pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét xử lý trong vụ án này. 3/Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vương Văn A - Cố ý gây thương tích - cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? 1/Tuyên bố bị cáo Vƣơng Văn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 6 - BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2026/HS-ST.
Ngày: 17/8/2026.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - BẮC NINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trung Giang và ông Trịnh Hồng Hải.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Anh - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 235/2026/TLST-HS ngày 17/07/2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 239/2026/QĐXXST-HS ngày 03/8/2026 đối với bị cáo:

Vƣơng Văn A, sinh năm 1976; HKTT: thôn S, xã T, tỉnh Lạng Sơn; Số CCCD số: 020087006362; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vương Văn H (Đã chết) và con bà Lê Thị T; Có vợ là Vi Thị T1, sinh năm 1988 (Đã li hôn); Có 03 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 26/10/2018, Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn (cũ) ra quyết định đình chỉ vụ án số 02/2018/HSST-QĐ về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/5/2026 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 01 Công an tỉnh B (Có mặt).

Bị hại: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1976; trú tại: TDP X, phường T, tỉnh Bắc Ninh - 033.2233.118. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 10 phút ngày 09/5/2026 tại tổ dân phố (TDP) T, phường V, tỉnh Bắc Ninh; Phòng C Công an tỉnh B và quần chúng nhân dân khống chế, bắt giữ đối tượng Vương Văn A về hành vi điều khiển xe mô tô không chấp hành hiệu lệnh của lực lượng Cảnh sát giao thông (CSGT) và đâm vào đồng chí Trung tá Nguyễn Văn T2 rồi tiếp tục bỏ chạy.

Công an phường V, tỉnh Bắc Ninh phối hợp cùng Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và đưa đối tượng về trụ sở làm việc. Tại trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã tiến hành kiểm tra nước tiểu, kết quả Vương Văn A dương tính với chất ma túy Methamphetamine.

Căn cứ lời khai của Văn A và các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan CSĐT đã thu thập, nội dung vụ án được xác định như sau:

Khoảng 08 giờ 30 sáng ngày 09/5/2026, Vương Văn A đi từ nhà đến khu công nghiệp Y, tỉnh Bắc Ninh để xin việc. Khi đi, Văn A điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại xe Jupiter màu bạc đen, BKS: 98B1-403.53 (Văn A khai đây là của Nguyễn Văn M, sinh năm 1985, HKTT: Thôn S, xã T, tỉnh Lạng Sơn). Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực cầu S thuộc phường V, tỉnh Bắc Ninh, Văn A gặp và hỏi mua 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng) tiền ma túy của 01 nam thanh niên. Sau đó, Văn A mang số ma túy này ra bờ sông thuộc phường V và sử dụng hết.

Sau khi sử dụng ma túy, Văn A tiếp tục điều khiển xe mô tô đi đến khu công nghiệp Y. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, Văn A điều khiển xe đi đến đường L thuộc TDP Thị Cầu G, phường V, tỉnh Bắc Ninh theo hướng phường V đi phường K. Khi đi đến gần ga T, Văn A quan sát thấy Tổ công tác của Đội CSGT đường bộ số A1 thuộc Phòng C Công an tỉnh B đang thực hiện tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm theo Kế hoạch số 18/KH-CSGTĐB1 ngày 04/5/2026 (các đồng chí CSGT mặc trang phục theo quy định) đang thực hiện việc kiểm tra nồng độ cồn. Phía trước xe mô tô của Văn A có khoảng 3-4 xe đang chờ kiểm tra nồng độ cồn, phía sau là các xe mô tô và ô tô đang đi chậm. Do bản thân không có giấy phép lái xe theo quy định, không mang theo giấy tờ xe mô tô BKS: 98B1-403.53 và trong người có chất ma túy do nên Văn A điều khiển xe mô tô quay đầu đi sang làn đường ngược chiều để bỏ chạy. Lúc này, đồng chí Thiếu tá Nguyễn Trung N điều khiển xe mô tô chuyên dụng đi từ vỉa hè ra lòng đường để chặn xe Văn A lại thì Văn A điều khiển xe lách qua xe mô tô của đồng chí N rồi tăng ga bỏ chạy. Khi thấy Văn A bỏ chạy, đồng chí Trung tá Nguyễn Văn T2 - Cán bộ được phân công hướng dẫn các phương tiện và chống quay đầu (theo kế hoạch) đi từ làn đường theo chiều phường V đi phường K sang chiều đường V bỏ chạy, mục đích để yêu cầu Văn A dừng xe, chấp hành kiểm tra nồng độ cồn. Quá trình di chuyển, đồng chí T2 vừa đi vừa sử dụng gậy chỉ huy giao thông ra tín hiệu dừng xe. Mặc dù phát hiện ra đồng chí Thiên phía trước nhưng Văn A tiếp tục điều khiển xe mô tô đi thẳng với mục đích để đồng chí T2 phải tránh ra, Văn A sẽ trốn tránh được việc kiểm tra hành chính và thổi nồng độ cồn của lực lượng CSGT. Do khoảng cách gần, đồng chí T2 không tránh kịp nên xe mô tô do Văn A điều khiển đã đâm vào mạn sườn bên phải của đồng chí T2 làm đồng chí Thiên ngã xuống lòng đường. Xe mô tô do Văn A điều khiển bị loạng choạng nhưng không đổ. Văn A tiếp tục điều khiển xe mô tô bỏ chạy thì bị lực lượng CSGT và người dân bắt giữ. Đồng chí T2 được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện Q từ ngày 09/5/2026 đến ngày 19/5/2026.

-Tại giấy chứng nhận thương tích số: 106/CN ngày 18/5/2026 của bệnh viện Q chẩn đoán: Chấn thương sọ não: chấn động não, vết thương phần mềm vùng thái dương đỉnh phải, liên đốt 1-2 ngón 2 bàn tay phải, gãy cung trước xương sườn 4 bên phải do tai nạn giao thông.

-Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 400(1)/26/KLTTCT-TTPY ngày 09/6/2026 của Trung tâm P kết luận:

+ Thương tích thái dương đỉnh phải, sẹo kích thước trung bình: 2%

+ Thương tích mu tay phải tương ứng khớp liên đốt 1-2 ngón II bàn tay phải, sẹo kích thước nhỏ 1%

+ Thương tích đùi phải 1/3 giữa ngoài, sẹo kích thước trung bình: 2%

+ Thương tích cẳng chân phải 1/3 giữa ngoài, sẹo kích thước trung bình: 2%

+ Vùng đùi phải: Trước, đùi sau, đùi trong hiện tại không có dấu vết thương tích: Không có căn cứ khoa học tính tỷ lệ phần trăm tổn thƣơng cơ thể.

+ Hình ảnh gãy cung trước xương sườn IV phải: 2%

+ Chấn thương sọ não (chấn động não).

Khám chuyên khoa thần kinh (01/6/2026) hiện tại: Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt, thể trạng trung bình, đau đầu âm ỉ, hay quên, không liệt thần kinh sọ não. Bệnh nhân đau đầu, chóng mặt thoáng qua, hay quên. Điện não đồ (05/6/2026) hiện tại: Điện não đồ hoạt động dạng chấn động não: 6%

Căn cứ Thông tư số: 22/2019/TT-BYT ngày 28/9/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn T2 tại thời điểm giám định là 14% (mƣời bốn phần trăm). Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

-Tại bản kết luận giám định cơ chế hình thành thương tích số 400(2)/26/KLTTCT-TTPY ngày 09/6/2026 của Trung tâm P kết luận: Cơ chế hình thành thương tích do tác động tương hỗ với vật tày.

Các kết luận giám định khác:

-Tại bản kết luận giám định số: 2358/KL-KTHS ngày 22/5/2026 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Số máy, số khung chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, gắn biển số 98B1-403.53 gửi giám định không bị tẩy xóa, không bị đóng lại. Hàng chữ số đóng trên thân máy: 5B94-002471 và hàng chữ số đóng trên khung xe: RLCJ5B9407Y002471 là nguyên thủy.

-Tại bản kết luận giám định số: 2388/KL-KTHS ngày 22/5/2026 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa và biên tập nội dung hình ảnh trong 02 (hai) tệp video mẫu cần giám định.

Về vật chứng thu giữ:

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter màu bạc đen, BKS: 98B1-403.53.

- 02 tệp video ghi lại nội dung sự việc từ camera an ninh và camera hành trình của người dân nơi xảy ra sự việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Vương Văn A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Với nội dung trên, bản Cáo trạng số: 91/CT-VKSBNH - KV ngày 15/7/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh truy tố Vương Văn A về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Vương Văn A khai nhận hành vi mà bị cáo thực hiện như nội dung bản cáo trạng đã quy kết là đúng. Bị cáo đồng ý với các nội dung của các kết luận giám định, thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin giảm nhẹ hình hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh duy trì công tố tại phiên tòa sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Vương Văn A phạm tội “ Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Vương Văn A từ 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù đến 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2026.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu bạc đen, BKS: 98B1-403.53 Cơ quan điều tra tách ra để xử lý sau tiếp tục xác minh nguồn gốc chiếc xe để xử lý theo quy định pháp luật là phù hợp.

Bị cáo nhận tội, không tham gia tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, phù hợp với các nội dung kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã thể hiện: Khoảng 14 giờ ngày 09/5/2026, bị cáo điều khiển xe mô tô BKS: 98B1-403.53 đi trên đường L thuộc TDP Thị Cầu G, phường V, tỉnh Bắc Ninh thì gặp Tổ công tác của Đội Cảnh sát giao thông (CSGT) đường bộ số 1 thuộc Phòng C Công an tỉnh B. Do bản thân không có giấy phép lái xe, không có giấy tờ xe và trong người có chất ma túy nên bị cáo đã điều khiển xe mô tô lách qua xe mô tô chuyên dụng của lực lượng CSGT và khi quan sát thấy đồng chí Nguyễn Văn T2 ra hiệu lệnh dừng xe, bị cáo tiếp tục điều khiển xe lao về phía đồng chí T2 với mục đích để đồng chí T2 phải tránh xe mô tô của bị cáo. Hậu quả, xe mô tô bị cáo va chạm với đồng chí T2, làm đồng chí T2 bị thương với tỷ lệ tổn thương cơ thể 14%.

Hành vi của bị cáo Vương Văn A đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Do đó, Cáo trạng truy tố bị cáo Vương Văn A theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an xã hội, xâm phạm đến sức khỏe công dân, đồng thời xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn giao thông. Bị cáo biết rõ người bị hại là cán bộ Công an đang thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, kiểm soát giao thông nhưng vẫn điều khiển phương tiện đâm vào người bị hại nhằm mục đích bỏ trốn, thể hiện thái độ coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe của người thi hành công vụ và tiềm ẩn nguy cơ gây hậu quả nghiêm trọng hơn. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả đã gây ra, đồng thời có tác dụng giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, HĐXX nhận thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, ngày 26/10/2018, Tòa án nhân dân huyện Hữu Lũng, tỉnh Lạng Sơn (cũ) ra quyết định đình chỉ vụ án số 02/2018/HSST-QĐ về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện cho bản thân nay lại phạm tội với lỗi cố ý.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Do vậy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.

Về trách nhiệm dân sự: Trong đơn xin xét xử bị hại là anh Nguyễn Văn T2 không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất cứ khoản gì; về trách nhiệm hình sự anh đề nghị giả quyết theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu bạc đen, BKS: 98B1-403.53 bị cáo khai nhận chiếc xe này bị cáo mượn của anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1985 HKTT: Thôn S, xã T, tỉnh Lạng Sơn; Căn cứ lời khai của bị cáo Cơ quan điều tra xác minh nhiều lần nhưng M đều vắng mặt tại địa phương;

Qua xác minh chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu bạc đen, BKS: 98B1-403.53 đăng ký tên bà Đồng Thị T3, sinh năm 1963, HKTT: Thôn N, xã K, tỉnh Bắc Ninh, bà T3 đã bán chiếc xe trên năm 2020, tuy nhiên bà T3 không nhớ bán cho ai, không lưu giữ giấy tờ mua bán. Bà T3 không có yêu cầu, đề nghị gì đối với chiếc xe. Qua tra cứu chiếc xe không có trên hệ thống vật chứng của Cơ quan Công an.

Do vậy Cơ quan cảnh sát điều tra đã tách vật chứng là chiếc xe chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu bạc đen, BKS: 98B1-403.53 để tiếp tục điều tra và xử lý sau theo quy định pháp luật.

- Đối với 02 tệp video ghi lại nội dung sự việc từ camera an ninh và camera hành trình của người dân nơi xảy ra sự việc là chứng cứ nên cần được lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với hành vi “sử dụng trái phép chất ma túy” của bị cáo, qua xác minh bị cáo không thuộc diện đối tượng theo Điều 256a Bộ luật Hình sự nên Công an phường V, tỉnh Bắc Ninh đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với các hành vi: điều khiển xe mô tô khi không có giấy phép lái xe theo quy định, không có giấy chứng nhận đăng ký xe của Văn A, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B đã có văn bản đề nghị Phòng C Công an tỉnh B xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1/Tuyên bố bị cáo Vƣơng Văn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Vương Văn A 02 (hai) năm 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2026.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Vương Văn A 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2/Về vật chứng của vụ án: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu bạc đen, BKS: 98B1-403.53 Cơ quan cảnh sát điều tra tách ra để xử lý sau theo đúng quy định của pháp luật. Do vậy Hội đồng xét xử không xem xét xử lý trong vụ án này.

3/Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Vương Văn A phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4/Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ