vanban.org

Bản án 229/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị Y và anh Đỗ Văn X.

Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng con tên Đỗ Quang Lộc, sinh ngày 05 tháng 5 năm 20yx cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị Y và anh Đỗ Văn X.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

.
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Bản án số: 229/2024/HNGĐ-ST
Ngày 26-12-2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Anh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hoàng Đức Cảnh

Ông Phạm Văn Sóng

- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngoan - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 277/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 236/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 175/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Vũ Thị Y, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Đỗ Văn X, sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn P, xã M, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện nộp tại Toà án ngày 30 tháng 9 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vũ Thị Y trình bày:

Về hôn nhân: Chị Vũ Thị Y và anh Đỗ Văn X xây dựng hạnh phúc với nhau trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn vào ngày xz tháng xc năm 20xx tại UBND xã M, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, trong công việc làm ăn kinh tế. Mặt khác, anh X mải chơi cờ bạc, không tu chí làm ăn dẫn đến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Do mâu thuẫn nên vợ chồng hiện đã sống ly thân nhau. Nay chị Y nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Y được ly hôn anh Công.

Về con chung: Chị Y khai chị và anh X có 03 con chung tên Đỗ Văn G, sinh ngày 30 tháng 3 năm 20xx; Đỗ Văn P, sinh ngày 13 tháng 12 năm 20xy và Đỗ Quang Lộc, sinh ngày 05 tháng 5 năm 20yx. Ly hôn, chị Y có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con tên Đỗ Quang Lộc cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Con tên Đỗ Văn G và Đỗ Văn P hiện đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên chị Y Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Y khai chị và anh X tự thoả thuận nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Y khai chị và anh X có tài sản chung nhưng hai bên tự thoả thuận phân chia nên chị Y không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn là anh Đỗ Văn X đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác theo quy định của pháp luật song đến ngày mở phiên tòa, anh X vẫn không có mặt tại Toà án để trình bày ý kiến về việc chị Y xin ly hôn.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị Y, anh X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng chị Y có đơn xin xét xử vắng mặt, anh X vắng mặt lần thứ hai nhưng không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Y, anh X. Về nội dung vụ án: Tài liệu điều tra thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh X đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị Y và anh X được ly hôn. Về con chung: Anh X và chị Y có 03 con chung tên Đỗ Văn G, sinh ngày 30 tháng 3 năm 20xx; Đỗ Văn P, sinh ngày 13 tháng 12 năm 20xy và Đỗ Quang Lộc, sinh ngày 05 tháng 5 năm 20yx. Căn cứ tài liệu điều tra xác minh khả năng, điều kiện nuôi con của mỗi bên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Vũ Thị Y trực tiếp nuôi con tên Đỗ Quang Lộc, sinh ngày 05 tháng 5 năm 20yx cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Hai con tên Đỗ Văn G và Đỗ Văn P hiện đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động, chị Y không yêu cầu Toà án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản chung: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Về án phí và quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị Y và anh X được quyền kháng cáo trong thời hạn do pháp luật quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn. Bị đơn là anh Đỗ Văn X có nơi cư trú tại xã M, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Chị Y, anh X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng chị Y có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Anh X vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Y và anh X.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Vũ Thị Y và anh Đỗ Văn X được xác lập vào năm 20xx là hợp pháp. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, trong lao động dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng thờ ơ, lạnh nhạt và thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Do mâu thuẫn nên chị Y và anh X hiện đã sống ly thân. Chị Y xin ly hôn anh X, Tòa án đã triệu tập anh X nhiều lần để trình bày ý kiến về việc chị Y xin ly hôn nhưng anh X vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị Y và anh X đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Y được ly hôn anh X.

Về con chung: Anh Đỗ Văn X và chị Vũ Thị Y có 03 con chung tên: Đỗ Văn G, sinh ngày 30 tháng 3 năm 20xx; Đỗ Văn P, sinh ngày 13 tháng 12 năm 20xy và Đỗ Quang Lộc, sinh ngày 05 tháng 5 năm 20yx. Ly hôn, chị Y có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con tên Đỗ Quang Lộc. Con tên Đỗ Văn G và Đỗ Văn P hiện đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên chị Y Không yêu cầu Toà án giải quyết. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện từ khi vợ chồng sống ly thân, chị Y là người trực tiếp nuôi các con chung và vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt. Vì vậy, giao cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng con tên Đỗ Quang Lộc cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Hai con tên Đỗ Văn G và Đỗ Văn P hiện đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Y khai chị và anh X có tài sản chung nhưng tự thoả thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử xem xét giải quyết.

Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí Tòa án thì chị Y phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Y và anh X được quyền kháng cáo trong thời hạn do pháp luật quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Vũ Thị Y và anh Đỗ Văn X.

2. Về con chung: Giao cho chị Vũ Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng con tên Đỗ Quang Lộc, sinh ngày 05 tháng 5 năm 20yx cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về án phí: Chị Vũ Thị Y phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0010079 ngày 09 tháng 10 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng, chị Vũ Thị Y đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Vũ Thị Y và anh Đỗ Văn X vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ