vanban.org

Bản án 229/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 11/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02(hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 07(bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2022 Về vật chứng: Áp dụng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T phạm tội tàng trữ TPMT - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Dân sự; Bộ luật dân sự - Tuyên bố
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA
TỈNH THANH HÓA
Bản án số: 229/2022/HS-ST
Ngày: 11/8/2022.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy

2. Bà Đỗ Thị Sinh

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hiến - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Oanh - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 8 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 251/2022/ HSST ngày 07 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 7 năm 2022 đối với:

Bị cáo Nguyễn Văn T ; Sinh năm: 1988

Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: Thôn LT, xã ĐL, huyện TrS, tỉnh TH; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn T (đã chết) và bà Phạm Thị S , sinh năm 1948; Vợ Nguyễn Thị T , sinh năm 1991; Có 01 con sinh năm 2011; Tiền sự: Không; Tiền án:

- Bản án số 21/2012/HSST ngày 20/4/2012 Tòa án nhân dân huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/9/2013.

- Bản án số 61/2015/HSST ngày 13/4/2015 bị Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản". Chấp hành xong hình tù ngày 30/4/2016.

- Bản án số 29/2017/HSST ngày 20/02/2017 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản”.

- Bàn án số 30/2017/HSST ngày 22/8/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 33 tháng tù tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp với 30 tháng tù tại bản án số 29/2017/HSST ngày 20/02/2017 của tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 63 tháng tù, được trừ 9 tháng 13 ngày chấp hành án, đã chấp hành xòn hình phạt tù ngày 08/5/2021

Bị cáo bị tạm giữ ngày 22/4/2022, chuyển tạm giam ngày 01/5/2022. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an TP.Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. (Có mặt)

Người bị hại:

1. Anh Nguyễn Tài Thỏa, sinh năm 1988

Nơi cư trú: Thôn Đồng Xá 1, xã Đồng Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa

2. Anh Trần Mộng Hùng, sinh năm 1998

Nơi cư trú: Phố Tây Sơn, phường Phú Sơn, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa

3. AnhLê Văn Lành, sinh năm 1992

Nơi cư trú: Thôn Hương 2, xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ ngày 22/4/2022, tại khuôn viên Bệnh viện Nhi Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, do nghi ngờ Nguyễn Văn T trộm cắp tài sản, tổ công tác Công an phường Đông Vệ, TP.Thanh hóa và nhân viên bảo vệ Bệnh viện Nhi đã yêu cầu T đến phòng bảo vệ để kiểm tra. Tại đây T đã tự giác lấy trong ví giao nộp cho Công an 02 gói giấy trắng có dòng kẻ kích thước mỗi gói 1cm x1,5cm, bên trong mỗi gói có chứa chất bột cục màu trắng, T khai đây là Herroin T cất giấu để sử dụng. Đồng thời T giao nộp 02 điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy j4+ màu vàng ánh kim; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Mimax3 T khai trộm cắp tại nhà D Bệnh viện Nhi. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng chuyển Cơ quan điều tra Công an TP.Thanh Hóa giải quyết.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Văn T khai nhận: Do nghiện ma túy và không có việc làm ổn định nên vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 21/4/2022, tại Phòng 801 nhà D, Bệnh viện Nhi Thanh Hóa (thuộc phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa) quan sát thấy cửa phòng không khóa, mọi người trong phòng ngủ say, T lén lút đi đến đầu giường thứ nhất bên phải lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy j4+ màu vàng ánh kim của anh Nguyễn Tài Thỏa, sinh năm 1988 (trú tại thôn Đồng Xá 1, xã Đồng Tiến, huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa); Sau đó đi đến đầu giường thứ 2 bên phải lấy 01 điện thoại di động hiệu OPPO A5, màu đỏ của anh Lê Văn Lành, sinh năm 1992 (Trú tại: Thôn Hương 2, xã Thọ Hải, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa). T bỏ 02 chiếc điện thoại vào túi quần và rời khỏi phòng bệnh 801 nhà D.

Đến khoảng 17 giờ ngày 21/4/2022, T mang chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO A5 trộm cắp được bán cho một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ được 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) T đã chi tiêu cho bản thân hết; Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy j4+ Tuân giữ lại để sử dụng.

Sau đó, khoảng 18h00 ngày 21/4/2022 T đi đến khu vực Cống Tân An (thuộc phường Ngọc Trạo, thành phố Thanh Hóa) để tìm mua heroin sử dụng. Tại đây T gặp một người đàn ông lái xe ôm khoảng 40 tuổi (Tuân không biết họ tên, địa chỉ người này) T nhờ mua 200.000 đồng heroin để sử dụng, người này nhận tiền rồi bỏ đi, khoảng 5 phút sau quay lại và đưa cho Tuân 01 túi nilon nhỏ chứa 02 gói giấy trắng có dòng kẻ bên trong là heroin, T bỏ vào ví da cất trong túi quần bên phải rồi về bệnh viện Nhi Thanh Hóa để chăm người thân đang điều trị tại đây.

Đến khoảng 4 giờ 00 phút ngày 22/4/2022, T đi đến phòng 406 nhà D, bệnh viện Nhi Thanh Hóa, quan sát thấy không có người trông coi tài sản, T đã lấy ở đầu giường thứ nhất bên phải 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi MiMax3, Ram 4GB, dung lượng 64GB của anh Trần Mộng Hùng, sinh năm 1998 (thường trú tại phố Tây Sơn, phường Phú Sơn, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa)

Đến khoảng 05 giờ ngày 22/4/2022, khi T đang đi bộ ở khuôn viên Bệnh viện Nhi Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa thì bị tổ công tác Công an phường Đông Vệ, TP.Thanh Hóa và nhân viên bảo vệ Bệnh viện Nhi yêu cầu T đến phòng bảo vệ để kiểm tra. Tại đây T đã tự giác giao nộp 02 gói Heroin và 02 điện thoại đã trộm cắp, đồng thời khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Tại kết luận giám định số 1549/KL - KTHS ngày 29/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Chất cục bột màu trắng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,191g, loại Heroin.

Tại kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐGTS ngày 11/05/2022 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố Thanh Hóa kết luận:

- 01 (Một) chiếc điện điện thoại di động OPPO A5, màu đỏ, đã qua sử dụng bị mất ngày 21/4/2022, giá trị tài sản là 1.000.000đ (Một triệu đồng).

- 01 (Một) chiếc điện thoại di động SAMSUNG GALAXY J4+, mầu vàng ánh kim đã qua sử dụng bị mất ngày 21/4/2022, giá trị tài sản là 900.000đ

- 01 (Một) chiếc điện thoại di động XIAOMI MIMAX3, Ram 4GB. dung lượng 64GB, đã qua sử dụng bị mất ngày 22/4/2022, giá trị tài sản là 2.000.000đ (Hai triệu đồng). Tổng tài sản định giá 3.900.000đ (Ba triệu chín trăm nghìn đồng).

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Về vật chứng vụ án:

Quá trình điều tra xác định: Điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG GALAXY J4+, màu vàng ánh kim là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Tài Thỏa nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Thỏa; Điện thoại di động nhãn hiệu XIAOMI MIMAX 3, Ram 4GB, dung lượng 64GB là tài sản hợp pháp của anh Trần Mộng Hùng nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Hùng.

Đối với điện thoại di động OPPO A5, màu đỏ, Tuân trộm cắp của anh Lê Văn Lành, T khai đã bán cho người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ, Cơ quan điều tra đã có quyết định truy tìm nhưng không tìm thấy.

Đối với số ma túy vật chứng còn lại sau giám định hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự TP. Thanh Hóa gồm: Một phong bì ma túy niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa, có hình dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự, kèm chữ ký, chữ viết của Lê Minh Tiến, Lưu Bình Nguyên, Trịnh Thị Thanh Loan theo “Biên bản giao nhận vật chứng” số 155/2022/THA ngày 07/7/2022 giữa Công an thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

Đối với người làm nghề xe ôm mà bị cáo khai đã mua ma túy hộ cho bị cáo, và người đã mua chiếc điện thoại do bị cáo trộm cắp mà có. Do bị cáo không biết nhân thân, địa chỉ những người này nên Cơ quan CSĐT không có cơ sở để xác minh xử lý.

Về Dân sự: Anh Nguyễn Tài Thỏa và anh Trần Mộng Hùng đã nhận lại tài sản (điện thoại) và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; Anh Lê Văn Lành yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá chiếc điện thoại mà bị cáo đã trộm cắp của anh.

Tại bản cáo trạng số 197/CT-VKSTPTH ngày 05 tháng 7 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm O Điều 249 BLHS và tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm O khoản 2 Điều 249; điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 (Đối với tội trộm cáp tài sản); Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 - của BLHS; Tuyên bố Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt Nguyễn Văn T từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; Xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của 2 tội theo quy định, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ; Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Về bồi thường dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho anh Lê Văn Lành tiền trị giá chiếc điện thoại bị cáo đã trộm cắp của anh Lành; Án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí dân sự theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội; Không tranh luận với đại diện VKS; Lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng khoan hồng của pháp luật với mức hình phạt thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra vụ án. Căn cứ mục đích, hành vi của bị cáo và kết quả giám định, kết luận định giá tài sản có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 05 giờ 00 phút ngày 22/4/2022 tại khu vực khuôn viên Bệnh viện Nhi Thanh Hóa (phường Đông Vệ, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa) Nguyễn Văn T đã có hành vi cất giữ trái phép 0,191g chất ma túy, loại Heroin, nhằm mục đích sử dụng.

Và vào các ngày 21/4 và 22/4/2022 Nguyễn Văn T đã có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trong việc quản lý trông coi tài sản T đã lén lút chiếm đoạt tài sản là 03 chiếc điện thoại di động có tổng trị giá 3.900.000đ (Ba triệu chín trăm ngàn đồng) của các anh Nguyễn Tài Thỏa, Lê Văn Lành và Trần Mộng Hùng, nhằm mục đích sử dụng và bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Bị cáo đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý do đó thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm

Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm O khoản 2 Điều 249 và tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người đúng tội đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án: Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, bị cáo đồng thời phạm 2 tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Trộm cắp tài sản”. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lí của Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma túy; Xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật; Xâm phạm trật tự an toàn xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc để răn đe giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Xét tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo do đó được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51- Bộ luật hình sự; Bị cáo đã tái phạm chưa được xóa án tích lại phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Song tình tiết “Tái phạm nguy hiểm” đã áp dụng để định khung hình phạt đối với bị cáo nên không coi là tình tiết tăng nặng; Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội hai lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS (Đối với tội trộm cắp tài sản); Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án nhưng không ăn năn hối cãi, không quyết tâm sửa chữa lỗi lầm mà tiếp tục phạm tội do cố ý. Vì vậy, HĐXX xem xét để có mức án phù hợp, đảm bảo tính răn đe cũng như sự khoan hồng của pháp luật, và cách li bị cáo khỏi đời sống cộng đồng xã hội một thời gian đề cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội và để phòng ngừa chung.

Đối với người làm nghề xe ôm mà bị cáo khai đã mua hộ ma túy cho bị cáo và người đã mua chiếc điện thoại là tài sản bị cáo trộm cắp mà có, do bị cáo không biết nhân thân, lai lịch, địa chỉ những người này nên Cơ quan CSĐT không có cơ sở để xác minh xử lý là đúng.

Vật chứng vụ án: Số ma túy mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy khi án có hiệu lực pháp luật; 02 điện thoại di động trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng theo quy định tại điểm a khoản 2; khoản 3 Điều 106 - BLTTHS

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo phải bồi thường cho anh Lê Văn Lành trị giá tài sản bị cáo đã trộm cắp theo quy định tại Điều 584, 589 - Bộ luật dân sự

Anh Nguyễn Tài Thỏa, anh Trần Mộng Hùng không có yêu cầu bồi thường về dân sự nên HĐXX không xét.

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố là hợp pháp.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định tại khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1, 3 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016;

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 55 - của Bộ luật hình sự. Căn cứ Điều 584, 589 - Bộ luật dân sự

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt: Nguyễn Văn T 05 (năm) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02(hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành là 07(bảy) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 22/4/2022

- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1, điểm a, b khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS. Sau khi án có hiệu lực pháp luật, tịch thu tiêu hủy số ma túy vật chứng còn lại sau giám định. Vật chứng hiện đang thu giữ tại Chi cục THADS thành phố Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng số 155/2022/THA ngày 07/7/2022 giữa Công an thành phố Thanh Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa.

- Về bồi thường dân sự: Căn cứ Điều 584, 589 – BLDS Buộc bị cáo phải bồi thường cho anh Lê Văn Lành trị giá chiếc điện thoại OPPO là 1.000.000đ (Một triệu đồng).

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 BLTTHS; khoản 1, 3 điều 21; điểm a khoản 1 điều 23 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn Tuân phải chịu 200.000đ án phí HSST và 300.000đ án phí dân sự có giá ngạch

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Anh Nguyễn Tài Thỏa, anh Trần Mộng Hùng, anh Lê Văn Lành có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ