- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự Tuyên
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH L Bản án số: 229/2022/HS - ST Ngày: 29 - 12 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ - TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Trần Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Minh Thọ
Bà Mai Lương Anh
- Thư ký phiên toà: Ông Huỳnh Ngọc Phú - Thư ký Toà án, Tòa án nhân
dân thành phố Đ - tỉnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ - tỉnh L tham gia phiên
tòa: Ông Phan Minh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Đ - tỉnh L
xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 267/2022/TLST - HS ngày 09 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 258/2022/QĐXXST - HS ngày 15 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Hoàng Minh P; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 18 tháng 5 năm 1991 tại:
T; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn T, xã K, L, tỉnh T; Nơi cư trú: 75 Mê Linh, Phường 9, thành phố Đ, tỉnh L; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không. Học vấn: 09/12, Nghề nghiệp: Không; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Hoàng Minh L, sinh năm: 1962; con bà: Đào Thị Tt, sinh năm: 1962; vợ là Bùi Thị M, sinh năm: 1990. Gia đình có 4 anh em, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1997, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2018.
Tiền án: Không;
Tiền sự: Quyết định số 19/2020/QĐ - TA ngày 02/6/2020 của Tòa án nhân
dân huyện G, thành phố H áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Hoàng Minh P trong thời gian 15 tháng tại Cơ sở cai nghiện số VI Hà Nội, chấp hành xong quyết định này vào ngày 08/8/2021.
Bị cáo bị bắt ngày 13/8/2022, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công
an thành phố Đ; Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Bùi Đức B, sinh năm 1977; địa chỉ thường trú: tổ 2, thôn T, xã
X, thành phố Đ, tỉnh L, địa chỉ hiện trú: tổ 7, thôn Đ, xã X, thành phố Đ, tỉnh L, vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Minh P là đối tượng nghiện ma túy từng bị đưa vào cơ sở cai nghiện
bắt buộc và không có công việc làm ổn định. Khoảng 08 giờ ngày 13/8/2022, P điều khiển xe mô tô hiệu Honda Dream II biển số 36L8 - 0244 xuống khu vực Cầu Đất, xã T, thành phố Đ gặp bạn để đi xin việc làm nhưng không gặp, nên P điều khiển xe quay về. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi đi đến tổ 7, thôn Đ, xã X, thành phố Đ thì P phát hiện có một ngôi nhà bên cạnh đường, phát hiện trước nhà có để một đống sắt vụn nên nảy sinh ý định lấy trộm tài sản. Thực hiện ý định trên, P để xe mô tô BS 36L8 - 0244 ở ngoài cổng và đi vào kiểm tra thì thấy nhà khóa cửa không có người trông coi, nên P tiếp tục tìm tài sản để lấy trộm, P vòng ra phía sau nhà phát hiện bên hông nhà có một nhà kho, phát hiện bên trong nhà kho có 01 máy hàn Hyundai MMA 200P màu xanh, 01 máy cắt sắt nhãn hiệu Ferm Com 1007P màu xanh, nên P đi ra phía sau nhà kho và dùng hai tay kéo vách tôn xuống, trèo vào trong nhà kho và P lấy máy hàn đưa ra khỏi nhà kho, khi đi ra phát hiện có bao tải, nên P lấy máy hàn bỏ vào bao tải rồi đưa cất dấu ở vườn cà phê. Sau đó P tiếp tục quay lại nhà kho lấy máy cắt sắt đưa ra vườn cà phê để bỏ vào bao tải cất dấu trước đó. Khi P chuẩn bị cho máy cắt sắt vào bao tải thì bị anh Bùi Đức Trình phát hiện, bắt quả tang giao cho Công an xã X, thành phố Đ để xử lý.
Tang vật thu giữ:
- 01 (một) máy hàn điện nhãn hiệu Hyundai MMA 200P màu xanh, đã qua
sử dụng;
- 01 (một) máy cắt điện hiệu Ferm Com 1007P màu xanh, đã qua sử dụng;
- 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Dream II (qua xác minh làm rõ chiếc xe có
nhãn hiệu Solid màu nâu) biển số BS 36L8 - 0244, đã qua sử dụng;
- 01 (một) biển số xe: 49S6 - 0184;
Theo kết luận định giá tài sản số 84/KL - ĐG ngày 17/8/2022 của Hội đồng
định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Đ xác định tổng giá trị tài sản Hoàng Minh P chiếm đoạt là 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Ngày 22 tháng 8 năm 2022 Cơ quan điều tra đã trả lại 01 (một) máy hàn điện
nhãn hiệu Hyundai MMA 200P màu xanh và 01 (một) máy cắt điện hiệu Ferm Com 1007P màu xanh thu hồi được và đã trả lại cho anh Bùi Đức Báu, anh Báu không có yêu cầu gì.
Tại bản cáo trạng số 257/CT - VKSĐL ngày 09/12/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân thành phố Đ đã truy tố bị can Hoàng Minh P về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo Hoàng Minh P khai nhận, khoảng 10 giờ ngày 13/8/2022 bị cáo đã
lén lút trộm cắp của anh Bùi Đức B tại tổ 7, thôn Đ, xã X, thành phố Đ 01 máy hàn Hyundai MMA 200P màu xanh trị giá 1.900.000đ (Một triệu chín trăm nghìn đồng) và 01 máy cắt sắt nhãn hiệu Ferm Com 1007P màu xanh trị giá 1.6000.000đ (Một triệu sáu trăm nghìn đồng), tổng trị giá tài sản là 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng). Bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh L.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ giữ
nguyên quyết định truy tố bị cáo Hoàng Minh P về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Minh P từ 12 - 15 tháng tù. Về xử lý vật chứng, giao cho Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ 01 (một) xe mô tô hiệu Solid màu nâu biển số BS 36L8-0244, số máy 1P50FMG350100150, số khung: CG7UM5B000150 và 01 biển số xe 49S6 - 0184 tiếp tục xác minh, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo Hoàng Minh P: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là
sai trái, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố
Đ, tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, người bị hại có đơn xin vắng mặt.
Nhận thấy, quá trình điều tra bị hại đã có lời khai đầy đủ tại cơ quan điều tra và đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì khác. Do đó, căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người bị hại theo quy định.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai
nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; để thỏa mãn cho nhu cầu sử dụng của cá nhân, ngày 13/8/2022 bị cáo Hoàng Minh P đã lén lút trộm cắp 01 máy hàn Hyundai MMA 200P màu xanh trại giá 1.900.000đ và 01 máy cắt sắt nhãn hiệu Ferm Com 1007P màu xanh trị giá 1.6000.000đ của ông Bùi Đức Báu. Tổng trị giá tài sản là 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm ngàn đồng).
Xét lời khai nhận tội của bị cáo Hoàng Minh P tại phiên toà phù hợp
với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Hoàng Minh P phạm tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ, tỉnh L truy tố là có cơ sở và đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, được thực hiện với lỗi
cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây nên sự nghi kỵ, mất đoàn kết trong nội bộ quần chúng nhân dân, tác động xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng từng nghiệm ma túy và đã bị xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, nhưng khi tái hòa nhập cộng đồng, bị cáo không lo tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành người công dân tốt mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, đã thể hiện sự coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục đối với bị cáo nhằm phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét đến thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải của bị cáo, tài sản đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu, nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Bùi Đức Báu đã nhận lại tài
sản và không có yêu cầu gì khác, nên Hội đồng xét xử không đề cập.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Solid màu nâu biển số BS 36L8 - 0244, số
máy 1P50FMG350100150, số khung: CG7UM5B000150 mà bị cáo P dùng làm P tiện để thực hiện hành vi trộm cắp và 01 biển số xe 49S6 - 0184 (đã thu giữ của bị cáo) hiện nay chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp nên giao cho Cơ quan Công an thành phố Đ tiếp tục điều tra, xác minh để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Hoàng Minh P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ
luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Minh P 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành
hình phạt tù tính từ ngày 13 tháng 8 năm 2022.
[2] Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tuyên: Giao cho Cơ quan Công an thành phố Đ, tỉnh L 01 (một) xe mô tô
hiệu Solid màu nâu biển số BS 36L8 - 0244, số máy 1P50FMG350100150, số khung: CG7UM5B000150 (đã qua sử dụng) và 01 (một) biển số xe mô tô 49S6 - 0184 để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý theo quy định của pháp luật.
(Vật chứng có đặc điểm cụ thể như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng
ngày 19/12/2022 giữa Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Đ).
[3] Về án phí:
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Hoàng Minh P phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án
phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền
kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh L xét xử phúc thẩm, riêng người bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án./. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L; - Sở Tư pháp tỉnh L; - VKSND tp.Đ; - Công an tp.Đ; - Nhà tạm giữ CA tp.Đ; - Chi cục THADS tp.Đ; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu: bộ phận lưu trữ, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Lan |