- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ DUY L - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Các Điều 584,585,586 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 …
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÌNH DƢƠNG Bản án số: 229/2019/HS-ST Ngày: 01 – 10 – 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Anh Thi
Các Hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Ngọc Hồng;
- Bà Dƣơng Thị Bạn.
- Thư ký phiên toà: Bà Thái Thị Yến, Thƣ ký Toà án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 220/2019/TLST- HS ngày 29 tháng 8 năm 2019 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 211/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
Lê Duy L , sinh năm 1991 tại tỉnh Thanh Hóa; nơi cƣ trú: Đội 10, thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh T; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Duy D, sinh năm 1963 và bà Lê Thị X, sinh năm 1962; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 346/2011/HSST ngày 30/11/2011 của Toà án nhân dân thị xã D tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 07 tháng tù, nhƣng cho hƣởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm kể từ ngày tuyên án 30/11/2011 về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị bắt tạm giam từ ngày 09/5/2019 cho đến nay. Có mặt.
Bị hại: Ông Lữ Chích N, sinh năm 1998; nơi cƣ trú: Ấp C, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: 1/9 khu phố A, phƣờng A , thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn xin vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Nguyễn Thị Vân A, sinh năm: 1976; trú tại: 208/19B, khu phố C, phƣờng T, thị xã D, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987; trú tại: 1/9, khu phố A, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng. Vắng mặt.
Người làm chứng:
Bà Nguyễn Thị Kim T, ông Lữ Văn Si R, bà Nguyễn Thị H. Đều có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 08/5/2019, Lê Duy L đi đến tiệm tạp hóa đối diện dãy trọ số 1/9, khu phố 3, phƣờng A , thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng để mua rƣợu. Tại đây, L gặp ngƣời thanh niên tên S từ trong dãy trọ đối diện đi ra, trên tay cầm 01 dao tự chế tiến đến chỗ L vì S cho rằng L là ngƣời nói xấu mình nên chửi bới, chém làm L bị xây xát ở đầu ngón tay giữa của bàn tay phải. Cho rằng Lữ Chích N là ngƣời đã nói xấu mình với S nên khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, L đến phòng trọ của N tại địa chỉ trên để nói chuyện. Khi đến, L thấy N và bà Nguyễn Thị Kim T (là vợ N) đang ở trong phòng nên L xông vào chỉ tay vào mặt N chửi bới và đánh vào mặt N, N đẩy L ra khỏi phòng đồng thời dùng vai bên phải ép cửa phòng lại để chốt khóa, lúc này L ở ngoài dùng 01 dao dài 45cm đâm nhiều nhát hƣớng từ ngoài vào xuyên qua cánh cửa, trúng vào phần lƣng và vai bên phải của N. Bà T la lên thì bà Nguyễn Thị H và ông Lữ Văn Si R ở phòng trọ kế bên đến ngăn cản, yêu cầu L bỏ dao xuống thì L bỏ xuống rồi đi khỏi hiện trƣờng. Ông N đƣợc đƣa đi cấp cứu tại Bệnh viện Quân Y 4.
Theo Bản kết luận giám định về thƣơng tích số 200/2019/GĐPY ngày 16/5/2019 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Bình Dƣơng kết luận: Tỷ lệ tổn thƣơng cơ thể do thƣơng tích gây nên của ông Lữ Chích N hiện tại là 08%.
Bản Cáo trạng số 237/CT-VKS -TA ngày 29/8/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng đã truy tố bị cáo Lê Duy L về tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa:
- Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dƣơng vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thƣờng chi phí điều trị thƣơng tích 8.500.000 đồng cho bị hại.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01 dao dài 45cm.
- Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nhƣ đã nêu trên, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận, đồng ý bồi thƣờng theo yêu cầu của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Trong các giai đoạn tố tụng từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc việc truy tố, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, cán bộ điều tra, Kiểm sát viên đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại, tố cáo về các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và ngƣời tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Lời khai nhận của bị cáo Lê Duy L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị hại, ngƣời làm chứng, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng thu giữ, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 08/5/2019, tại nhà trọ số 1/9, khu phố 3, phƣờng A , thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng, bị cáo sử dụng dao đâm bị hại gây thƣơng tích với tỷ lệ 8%. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thƣơng tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thuận An truy đã tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng ngƣời, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là ngƣời có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức đƣợc việc làm của mình là vi phạm nhƣng vì mâu thuẫn nhỏ với nhau, bị cáo sử dụng dao là một trong những hung khí nguy hiểm để đâm, gây thƣơng tích cho ngƣời bị hại. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của ngƣời khác, gây mất an ninh, trật tự tại địa phƣơng. Bị cáo đã từng bị Tòa án xử phạt về hành vi phạm tội, không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, thể hiện bản chất coi thƣờng pháp luật, do đó cần xử phạt bị cáo mức án tƣơng xứng với nhân thân, tính chất, hành vi phạm tội nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Đối với đối tƣợng tên S có hành vi dùng dao chém làm xây xát đầu ngón tay của bị cáo, nhƣng bị cáo từ chối giám định, không yêu cầu xử lý nên không xem xét.
Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhƣng trong hồ sơ thể hiện yêu cầu bồi thƣờng chi phí điều trị thƣơng tích tổng cộng 8.500.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thƣờng theo yêu cầu của bị hại nên chấp nhận.
Đối với ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Văn Q là ngƣời thuê dãy nhà trọ số 1/9, khu phố 3, phƣờng A, thị xã T, tỉnh Bình Dƣơng của bà Nguyễn Thị Vân A để kinh doanh, bị cáo dùng dao đâm bị hại làm thủng cửa phòng trọ nhƣng ông Q và bà Vân A không yêu cầu gì nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Điều tra thu giữ:
01 con dao lƣỡi bằng kim loại, sắc một cạnh, cán dao bằng nhựa màu trắng, tổng chiều dài là 45 cm (lƣỡi dao dài 33cm, cán dao dài 12cm) là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Các Điều 584,585,586 và 590 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Duy L phạm tội “Cố ý gây thƣơng tích”
Xử phạt bị cáo Lê Duy L 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/5/2019.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Lê Duy L có trách nhiệm bồi thƣờng cho ông Lữ Chích N số tiền 8.500.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 con dao lƣỡi bằng kim loại, sắc một cạnh, cán dao bằng nhựa màu trắng, dài 45 cm (lƣỡi dao dài 33cm, cán dao dài 12cm).
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 29/8/2019)
3. Về án phí:
Buộc bị cáo Lê Duy L phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 425.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết.
Trƣờng hợp bản án đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án dân sự, ngƣời phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dƣơng; - VKSND tỉnh Bình Dƣơng - VKSND thị xã Thuận An; - Chi cục THADS thị xã Thuận An; - Công an thị xã Thuận An; - Chánh án (để báo cáo); - Bị cáo, ngƣời tham gia tố tụng khác; - Lƣu HS, THAHS, AV; - Sở Tƣ pháp tỉnh Bình Dƣơng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Thi |