vanban.org

Bản án 229/2018/HSST — Hình sự

TAND Q. Hoàn Kiếm, TP. Hà Nội Tuyên án 29/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án HS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2018/HSST
Ngày: 29/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Đồng Trưng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Đỗ Thị Thục

2. Bà Vũ Thị Kim Thái

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hiển Vinh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thùy Linh

- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 234/2018/HSST ngày 07 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Văn H..

Sinh năm: 1995

Giới tính: Nam Tên gọi khác: Không. Nơi ĐKHKTT: số 69 tổ 4B P, phường P, Hoàn Kiếm, Hà Nội. Chỗ ở: Không nơi ở cố định. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Họ tên cha: Nguyễn Văn K (đã chết); Họ tên mẹ: Mai Lệ K - sinh năm: 1977; Gia đình có hai anh em, bị can là con thứ nhất. Nhân thân: 01 tiền án:

- Ngày 07/11/2014, Tòa phúc thẩm Tòa án ND thành phố Hà Nội xử phạt 8 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (giá trị tài sản chiếm đoạt 5.000.000 đồng), thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án (AS:871/2014/HSPT). Xác minh thi hành án, đã nộp án phí ngày 23/7/2014. Ra trại ngày 28/4/2016. Đã được xóa án tích. Tạm giữ: 22/8/2018

Tạm giam: 31/8/2018

Số giam: 3830Q1/2. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số I - Công an TP Hà Nội(vắng mặt).

Người bị hại: Đào Thị Đ. -sinh năm: 1973

ĐKHKTT : Thôn A, Xã Đ, huyện Khoái Châu, Hưng Yên

Hiện trú tại : số 27 ngõ 32 P, quận B, Hà Nội

(Vắng mặt)

Néi dung vô ¸n

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 13 giờ ngày 21/8/2018, Nguyễn Văn H. đi bộ vào chợ Đồng Xuân với mục đích trộm cắp tài sản. Khi H. đi ngang quầy hàng số 252 B1 là của chị Đào Thị Đ. (sinh năm: 1973, ĐKHKTT : số 27 ngõ 32 P, quận B, Hà Nội) thấy chị Đ. đang nằm ngủ phía trong, trên bàn có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 5 màu trắng và 01 điện thoại di động Oppo F1S màu trắng. H. tiến lại gần bàn rồi dùng tay trái trộm cắp 02 chiếc điện thoại trên. Lúc này, chị Đ. tỉnh dậy phát hiện và hô hoán. H. cầm 02 chiếc điện thoại bỏ chạy ra phía cửa chợ Đồng Xuân, khi chạy đến cổng chợ thì bị lực lượng bảo vệ chợ Đồng Xuân bắt giữ H. cùng tang vật về trụ sở Công an phường Đồng Xuân giải quyết.

Tang vật thu giữ : 01 điện thoại di động Iphone 5 màu trắng 16GB, số IMEI : 013421005005734 đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động Oppo F1S màu trắng 32GB, số IMEI 1 : 863632035276290, IMEI 2 : 863632035276282 đã qua sử dụng. (BL : 25).

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 114 ngày 23/8/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Hoàn Kiếm kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 5 màu trắng 16GB có giá trị là 1.200.000 đồng ; 01 điện thoại di động Oppo F1S màu trắng 32GB có giá trị là 2.200.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 3.400.000 đồng (ba triệu bốn trăm nghìn đồng). (BL: 36-37).

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn H. khai nhận một mình đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên. (BL: 67-81).

Đối với chị Đào Thị Đ., ngày 08/10/2018 Cơ quan CSĐT - Công an quận Hoàn Kiếm đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chị Đ. 01 điện thoại di động Iphone 5 màu trắng và 01 điện thoại di động Oppo F1S màu trắng. Chị Đ. đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về dân sự

Tại bản cáo trạng số 224/CT-VKS ngày 29/10/2018 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm truy tố Nguyễn Văn H. về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn H. khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cơ quan điều tra và đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà sau khi phân tích tính chất hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H. mức án từ tháng đến

tháng tù

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn H. đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, phù hợp với tang vật chứng đã thu giữ, đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ ngày 21/8/2018, Nguyễn Văn H. đã có hành vi trộm cắp của chị Đào Thị Đ. 01 điện thoại di động Iphone 5 màu trắng có giá trị là 1.200.000 đồng và 01 điện thoại di động Oppo F1S màu trắng có giá trị là 2.200.000 đồng, tổng giá trị tài sản là 3.400.000 đồng thì bị bắt quả tang cùng tang vật tại quầy hàng số 252 B1 chợ Đồng Xuân, phường Đồng Xuân, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Bị cáo Nguyễn Văn H. đã một lần phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cơ quan pháp luật xử lý về hình sự. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó là bài học để cải tạo mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên lần này. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Do vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam cách ly bị cáo trong một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo cũng như phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn nên cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015 giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo .

Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát, của Điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hợp pháp

Về dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì về dân sự nên không xem xét trách nhiệm dân sự đối với bị cáo.

Bị cáo không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt tiền theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự;

Vì các lẽ trên:,

QuyÕt ®Þnh

1. Tuyên bố: Nguyễn Văn H. phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Áp dụng.

+ Khoản 1 điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự 2015

+ Điều 135, 331, 333 - Bộ luật tố tụng hình sự 2015

+ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án,

3. Xử phạt: Nguyễn Văn H.

tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 22/8/2018.

+ Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự

4. Án phí quyền kháng cáo:

+ Bị cáo H. phải chịu 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

+ Người bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ