vanban.org

Bản án 229/2018/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 18/07/2018 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/07/2018 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Y1 Hđớk và bị cáo Y2 Hđớk. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 99/2018/HSST ngày 17/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về hình phạt. Xử phạt bị cáo Y1 Hđớk 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù: Tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 28/11/… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Y1 Hđơk và Y2 Hđơk cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi,…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2018/HSPT
Ngày 18/7/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Kim Khánh.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Đình Triết - Ông Doãn Đình Quyến.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Khánh Chi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Dương Văn Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 18/7/2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 176/2018/HSPT ngày 31/5/2018 đối với bị cáo Y1 Hđớk và bị cáo Y2 Hđớk về tội “Cố ý gây thương tích”. Do có kháng cáo của các bị cáo Y1 Hđớkvà bị cáo Y2 Hđớk đối với bản án hình sự sơ thẩm số 99/2018/HSST ngày 17/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

Bị cáo có kháng cáo:

1. Y1 Hđớk; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1995 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Buôn A xã HP, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk; dân tộc: Ê đê; tôn giáo: Tin Lành; trình độ học vấn: 6/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông: Y3 Byă, sinh năm 196 và bà: H1 Hđớk, sinh năm 1962; bị có chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 28/11/2017 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

2. Y2 Hđớk; Tên gọi khác: Không; sinh năm 1991 tại tỉnh Đắk Lắk; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Buôn A xã HP, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk; dân tộc: Ê đê; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: Không đi học; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Y4 Niê (đã chết) và bà H2 Hđớk, sinh năm 1968; Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị bắt, tạm giam từ ngày 28/11/2017 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại: Y5 Êya, sinh năm 1985; trú tại: Buôn B, xã T, huyện C, tỉnh Đắk Nông (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản cáo trạng và bản án hình sự sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 30/3/2017, sau khi đi nhậu cùng các bạn thì nhóm Y5 Êya, Y2 Hđớk và Y1 Hđớk cùng về nhà sàn của bà ngoại Y2 ở Buôn A xã HP, thành phố BMT, tỉnh Đắk Lắk để nhậu tiếp. Anh Y5 có nhờ chị H3 mua giúp 300.000 đồng bia về uống. Trong lúc nhậu, anh Y5 có nói đùa việc muốn lấy chị H3 làm vợ. Nghe vậy thì Y2 tức giận về việc trêu đùa với dì của mình (chị H3 là dì của Y2).

Nhậu được một lúc thì anh Y5 đứng dậy đi xuống nhà sàn. Lúc này Y2 có nháy mắt với Y1 và nói “Đánh nó đi”. Y1 hiểu ý Y2 nên đồng ý, rồi cầm 01 vỏ chai chai bia Sài Gòn bằng thủy tinh đi theo phía sau anh Y5. Khi anh Y5 đang đứng ở dưới nhà sàn nói chuyện với chị H3, thì Y1 tiến đến cầm chai bia thủy tinh đánh trúng vào vùng mặt của anh Y5, làm anh Y5 té ngã xuống đất, vỏ chai bia bị bể. Y1 tiếp tục cầm vỏ chai bia bị bể đâm trúng vùng cổ của anh Y5 gây thương tích rách da, chảy máu. Thấy vậy, chị H3 vào can ngăn thì Y1 vứt vỏ chai bia lại và bỏ về nhà. Anh Y5 được chị H3 giúp lau vết thương và được người nhà đưa vào Bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắk chữa trị thương tích. Khi Y2 thấy Y1 đánh anh Y5 thì không can ngăn. Sau khi Y5 bị thương, Y2 không cứu chữa mà lại bỏ về nhà mình.

Tại bản Kết luận pháp y thương tích số 685 ngày 25/5/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Anh Y5 Êya bị đa thương, gãy cung tiếp gò má phải, tỷ lệ thương tích 18%. Vật tác động: Cứng, tày, có cạnh.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2018/HSST ngày 17/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Y1 Hđớk và bị cáo Y2 Hđớk phạm tội “ Cố ý gây thương tích”;

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41 ngày ngày 20/6/2017 của Quốc hội, khoản 3 Điều 7, điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Y1 Hđớk 03 (Ba) năm tù;

Xử phạt bị cáo Y2 Hđớk 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù;

Thời hạn chấp hành hình phạt tù: Tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 28/11/2017).

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và tuyên về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 18/4/2018, và ngày 27/4/2018 các bị cáo Y1 Hđớk và bị cáo Y2 Hđớk có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Y1 Hđớk và bị cáo Y2 Hđớk khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo là đúng như cáo trạng và bản án cấp sơ thẩm đã nêu.

Quá trình tranh luận tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất mức độ và hậu quả do hành vi của các bị cáo gây nên và cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Y1 Hđớk và bị cáo Y2 Hđớk về tội “Cố ý gây thương tích”, khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015 là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xét mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo Y1 Hđớk là 03 năm tù và bị cáo Y2 Hđớk là 02 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả mà các bị cáo gây ra. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Tại phiên tòa các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì thêm chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có cơ sở kết luận: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 30/3/2017, tại Buôn A xã HP, thành phố BMT, bị cáo Y2 Hđớk đã xúi giục Y1 Hđớk dùng chai bia thủy tinh đánh vào mặt và người anh Y5 Êya, gây thương tích với tỷ lệ thương tật 18%. Nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét mức hình phạt 03 năm tù đối với bị cáo Y1 Hđớk; 02 năm 6 tháng tù đối với bị cáo Y2 Hđớk mà Tòa án sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là thỏa đáng, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Bởi lẽ, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Mặc dù giữa các bị cáo và anh Y5 Êya không có mâu thuẫn gì, song do ý thức coi thường pháp luật, coi thường tính mạng, sức khoẻ của người khác nên bị cáo Y2 Hđớtk đã xúi giục Y1 Hđớk dùng chai bia thủy tinh đánh vào mặt và người anh Y5 Êya. Trong quá trình xét xử Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, tại phiên toà phúc thẩm các bị cáo cáo Y1 Hđớk và bị cáo Y2 Hđớk không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Vì vậy, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, mà cần giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm về hình phạt là phù hợp.

Về án phí: Do không được chấp nhận kháng cáo nên các bị cáo Y1 Hđớk và Y2 Hđớk phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Y1 Hđớk và bị cáo Y2 Hđớk. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 99/2018/HSST ngày 17/4/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột về hình phạt.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Y1 Hđớk 03 (Ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù: Tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 28/11/2017).

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Y2 Hđớk 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù: Tính từ ngày bị bắt tạm giam (ngày 28/11/2017).

[2] Về án phí: Bị cáo Y1 Hđớk và bị cáo Y2 Hđớk mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ