vanban.org

Bản án 229/2017/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 21/12/2017 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/12/2017 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ông Nguyễn Văn Kh.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2017/DSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ông Tô Tấn L đối với Ông Nguyễn Văn Kh và Bà Tăng Kiều O.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tặng cho tài sản — án dân sự — "Tô Tấn l-Nguyễn Văn Kh"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ông Nguyễn Văn Kh.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 229/2017/DS-PT
Ngày: 21-12-2017
V/v tranh chấp đòi lại tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Liên

Các Thẩm phán:

Ông Hà Thanh Hùng

Bà Trịnh Xuân Trúc

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Ngọc Trâm là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Dẽ – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 12 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 261/2017/TLPT-DS ngày 07 tháng 11 năm 2017 về việc “Tranh chấp đòi lại tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2017/DSST ngày 20 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Cbị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 317/2017/QĐ-PT ngày 20 tháng 11 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Tô Tấn L, sinh năm 1976 (Có mặt)

Địa chỉ: phường 5, thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1969 (Có mặt)

Địa chỉ: xã Đ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Tăng Kiều O, sinh năm 1972 (Có mặt). Địa chỉ: xã Đ, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau

- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn Kh – Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ông Tô Tấn L trình bày: Vào năm 2014 ông là chủ cửa hàng thức ăn thủy sản Tân Phương có bán các mặt hàng thức ăn thủy sản và loại thuốc, hóa chất thủy sản cho ông Khnhiều lần và kéo dài đến năm 2016 thì tổng số tiền là 170.866.070 đồng (Một trăm bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng). Việc giao dịch mua bán các loại mặt hàng nêu trên với hình thức đầu tư cuối vụ thu hoạch tôm thì thanh toán dứt điểm. Đến ngày 09/9/2016 thì ông Khcó thanh toán cho ông được số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), ông Khcó ký vào giấy theo dõi công nợ khách hàng số tiền là 70.866.070 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng), ông Khhứa làm vụ tới sẽ trả tiền nhưng đến nay ông Khkhông trả. Nay ông yêu cầu ông Khtrả cho ông số tiền là 70.866.070 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng).

Ông Nguyễn Văn Kh trình bày: Ông Khthừa nhận từ năm 2014 cho đến năm 2016 ông có mua thức ăn tôm thẻ chân trắng, thuốc và hóa chất của ông Ltổng số tiền là 170.866.070 đồng (Một trăm bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng). Đến ngày 09/9/2016 ông có trả cho ông Lsố tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), ông thừa nhận có ký nhận nợ ông Lngày 09/9/2016 số tiền còn lại là 70.866.070 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng), ông Lhứa sẽ tiếp tục bán thức ăn nhưng từ khi ông trả được số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) thì ông Lcắt giao dịch mua bán thức ăn với ông nên ông phải ra bên ngoài để mua thức ăn nuôi tiếp, đến khi ông lên vụ nuôi tiếp theo thì ông trả cho ông L10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) nhưng ông Lkhông chịu nhận, sau đó ông Lcó yêu cầu đến chính quyền địa phương hòa giải, ông có yêu cầu ông Ltiếp tục bán thức ăn cho ông thì ông sẽ thanh toán số tiền còn lại nhưng ông Lkhông chịu bán tiếp, chính quyền địa phương động viên cho ông Lthu lại 50% của số tiền 70.866.070 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng), còn lại là 39.330.350 đồng (Ba mươi chín triệu, ba trăm ba mươi ba ngàn, ba trăm năm mươi đồng), ông Lyêu cầu ông trả số tiền là 70.866.070 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng), ông không đồng ý. Nay ông yêu cầu ông Ltiếp tục giao các mặt hàng thức ăn thủy sản để ông nuôi các vụ tôm tiếp theo có lời thì ông trả số tiền cho ông L. Nếu ông Lkhông tiếp tục giao thức ăn thủy sản nữa thì ông không đồng ý trả số tiền nêu trên.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 67/2017/DSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện Cđã quyết định:

Áp dụng các Điều 26, 35, 39, 146, 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 332, 357, 430, 440 Bộ luật dân sự; Điều 48, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 27 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ông Tô Tấn L đối với Ông Nguyễn Văn Kh và Bà Tăng Kiều O.

Buộc Ông Nguyễn Văn Kh và Bà Tăng Kiều O phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ông Tô Tấn L số tiền là 70.866.070 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng).

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất chậm trả, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 20 tháng 10 năm 2017, Ông Nguyễn Văn Kh kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét lại bản án sơ thẩm với lý do: Cha của ông qua đời ông xin hoãn, mới tống đạt 01 lần, ông không đồng ý trả số tiền 70.866.070 đồng, án phí, phí phải trả lãi.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Khgiữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng, các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định; Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Khóa, giữ nguyên bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện C.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Xét kháng cáo của Ông Nguyễn Văn Kh yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét về thủ tục tố tụng, ông cho rằng do cha của ông qua đời nên ông xin hoãn thì mới tống đạt 01 lần mà Tòa sơ thẩm đưa ra xét xử ông không đồng ý. Hội đồng xét xử thấy rằng, ông Khnhận Quyết định đưa vụ án ra xét xử vào ngày 25/7/2017 nhưng ông có đơn xin hoãn phiên tòa lý do cha ông bệnh; đến ngày 22/8/2017 ông lại xin hoãn phiên tòa vì cha ông chết, tại giấy trích lục khai tử ông Khcung cấp ngày 22/8/2017 (BL 62) thể hiện cha ông chết ngày 20/8/2017 thì cùng ngày ông Khnhận quyết định hoãn phiên tòa ngày 22/8/2017 và giấy triệu tập xét xử vào ngày 20/9/2017 (BL 66, 67) nhưng ông vẫn vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa ông Khthừa nhận có nhận các giấy tờ trên. Từ đó, cấp sơ thẩm căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông Khóa, bà Oanh là đúng quy định.

Đối với kháng cáo của ông Khvề việc không đồng ý trả số tiền 70.866.070 đồng cho ông L, cũng không đồng ý đóng án phí và phí phải trả lãi.

Xét thấy, ông Khthừa nhận có mua thức ăn tôm của ông Ltừ năm 2014 đến 2016 và thiếu lại số tiền như ông Ltrình bày là đúng, ông có ký vào giấy theo dõi công nợ khách hàng số tiền 70.866.070 đồng vào ngày 09/9/2016 (BL 38) nhưng ông Khcho rằng ông Lhứa sau khi ông trả được 100.000.000 đồng chỉ còn nợ số tiền trên thì ông Lsẽ tiếp tục bán thức ăn nuôi tôm cho ông mà ông Lkhông thực hiện nên ông phải mua chỗ khác nuôi tiếp. Khi lên vụ ông đến trả cho ông L10.000.000 đồng ông Lcũng không nhận mà thưa ông ra chính quyền, nay nếu ông Ltiếp tục bán thức ăn nuôi tôm cho ông, có lời thì ông thanh toán tiếp số tiền còn lại, nếu không thì ông không đồng ý trả. Tuy nhiên, ông Lkhông thừa nhận có hứa sau khi ông Khtrả 100.000.000 đồng thì ông bán tiếp, ông Khkhông có gì chứng minh, trong khi ông thừa nhận còn nợ lại số tiền trên và do khoản tiền trên là khoản nợ trong thời kỳ hôn nhân của ông và Bà Tăng Kiều O, ông xác định sử dụng vào nhu cầu chung của gia đình nên cấp sơ thẩm buộc ông và bà Oanh có trách nhiệm trả số tiền 70.866.070 đồng cho ông Llà có cơ sở. Hơn nữa, bà Oanh cũng không có kháng cáo là đương nhiên chấp nhận khoản nợ này nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của ông Khóa.

Do việc ông Lkiện ông Khcó cơ sở nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của ông L, buộc ông Khóa, bà Oanh phải chịu án phí và lãi suất chậm thi hành là đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do cách tuyên về lãi suất chậm thi hành án của cấp sơ thẩm quá vắn tắt nên cần phải điều chỉnh lại cho đúng quy định.

Tại phiên tòa phúc thẩm ông Khkhông đưa ra được tài liệu chứng cứ gì khác hơn để bảo vệ cho yêu cầu kháng cáo của ông nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không có sơ sở chấp nhận, cần giữ nguyên quyết định bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau là phù hợp.

Về án phí dân sự phúc thẩm, do không chấp nhận kháng cáo của ông Khnên ông Khphải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định, ông Khđã dự nộp được chuyển thu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Ông Nguyễn Văn Kh.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 67/2017/DSST ngày 20/9/2017 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Cà Mau.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ông Tô Tấn L đối với Ông Nguyễn Văn Kh và Bà Tăng Kiều O.

Buộc Ông Nguyễn Văn Kh và Bà Tăng Kiều O phải có nghĩa vụ liên đới trả cho Ông Tô Tấn L số tiền là 70.866.070 đồng (Bảy mươi triệu tám trăm sáu mươi sáu ngàn không trăm bảy mươi đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền nêu trên, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Buộc Ông Nguyễn Văn Kh và Bà Tăng Kiều O phải chịu số tiền là 3.543.000 đồng (chưa nộp). Ông Lkhông phải chịu, ngày 08/3/2017 ông Lđã dự nộp là 1.771.000 đồng theo biên lai thu số 0011085 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước được nhận lại.

Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Khphải chịu 300.000 đồng, ngày 20 tháng 10 năm 2017 ông Khđã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0003899 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Nước được chuyển thu.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ