vanban.org

Bản án 228/2025/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 16/08/2025 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/08/2025 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Đ - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 228/2025/HS-PT
Ngày: 16 – 8 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh.

Các Thẩm phán:

Ông Sỹ Danh Đạt.

Bà Kiều Kim Xuân.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Phan Thị Kim Loan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Ngọc Quí - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 161/2025/TLPT-HS ngày 02/7/2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 20/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Đồng Tháp).

Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh ngày 18/01/1993 tại tỉnh Đồng Tháp; giới tính: Nam; nơi thường trú và chỗ ở: Tổ 8, ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tổ 8, ấp 1, xã B, tỉnh Đồng Tháp); trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: Làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1969 và con bà Võ Thị X, sinh năm 1969; có vợ đã ly hôn, có 01 con;

- Tiền án: Không;

- Tiền sự: Ngày 06/3/2024, bị UBND phường 1, thành phố C xử phạt hành chính 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản;

- Tạm giữ: Không; Tạm giam: Không.

Bị cáo đang tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại Đinh Văn H không kháng cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đinh Thị L, Võ Thị X không kháng cáo và Viện kiểm sát không kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 10 phút, ngày 14/11/2024, bị cáo Nguyễn Văn Đ mang theo một con dao Thái Lan (loại dao gọt trái cây) và một đèn pin chiếu sáng, một mình điều khiển xe đạp từ nhà đến vườn sầu riêng của ông Đinh Văn H, sinh năm 1974, ngụ tổ 7, ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, mục đích cắt trộm trái sầu riêng bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Đến khoảng 00 giờ 10 phút, ngày 15/11/2024, khi cách vườn ông H khoảng 10 mét thì bị cáo Đ đậu xe đạp cặp lề đường, để lại đôi dép tổ ong màu trắng cạnh xe đạp rồi tiếp tục đi bộ vào vườn để hái trộm trái sầu riêng. Bị cáo Đ dùng đèn pin chiếu sáng, rồi dùng dao để cắt trộm trái sầu riêng. Bị cáo cắt trộm 05 (năm) trái sầu riêng thì nhặt được một cái bao trong vườn nên để trái sầu riêng vào và mang đến nơi đậu xe đạp, để lên yên xe, dùng dây băng buộc lại và điều khiển xe chạy đến trước cửa hàng rào nhà bà Đinh Thị L, sinh năm 1944, nơi cư trú tại ấp T, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp, cất giấu số sầu riêng trộm được. Bị cáo tiếp tục quay lại vườn nhà ông H cắt trộm lần thứ hai được 04 (bốn) trái sầu riêng; lần thứ ba cắt trộm được 03 (ba) trái sầu riêng mang đi cất giấu tại trước cửa rào nhà bà L. Đến lần thứ tư, khi bị cáo đang cắt được 04 (bốn) trái sầu riêng nhưng chưa kịp mang đi cất giấu thì bị ông H phát hiện, tri hô nên bị cáo bỏ chạy để lại chiếc xe đạp, sợi dây băng và đôi dép tổ ong màu trắng; trên đường bỏ chạy, bị cáo đã ném bỏ con dao và chiếc đèn pin. Ông H đến Công an xã Phương Trà trình báo sự việc bị mất trộm tài sản.

Qua làm việc, bị cáo chỉ địa điểm cất giấu 12 trái sầu riêng trước hàng rào nhà bà L. Cơ quan điều tra đã thu giữ toàn bộ 16 trái sầu riêng bị mất trộm, tổng trọng lượng 50kg (trong đó có 12 trái sầu riêng tại trước cửa hàng rào nhà bà L, tại vườn là 04 trái sầu riêng).

Thu giữ tại hiện trường: 01 (Một) cái bao có in chữ “Vĩnh Hoàn Feed”; 01 (Một) xe đạp màu trắng, không nhãn hiệu, yên xe phía sau có sợi dây băng màu vàng đen đỏ; 01 (Một) đôi dép nhựa màu trắng (loại dép tổ ong), tất cả đều đã qua sử dụng.

Tại Biên bản và kết luận định giá tài sản số 82/BB-HĐĐGTTHS ngày 29/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cao Lãnh, kết luận:

- 09 (chín) trái sầu riêng Thái, tổng khối lượng 32,7kg, trị giá 5.831.500 đồng.

- 07 (bảy) trái sầu riêng loại Ri6, tổng trọng lượng 17,3kg, trị giá 2.191.333 đồng.

Tổng giá trị trái sầu riêng bị mất trộm: 8.023.000 đồng (Tám triệu không trăm hai mươi ba nghìn đồng).

Về vật chứng, quá trình điều tra đã thu giữ và xử lý như sau:

Đối với 16 trái sầu riêng bị mất trộm, tổng trọng lượng 50kg, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại ông Đinh Văn H.

Đối với 01 (Một) cái bao có in chữ “Vĩnh Hoàn Feed” là tài sản của ông Đinh Văn H, tuy nhiên ông H không yêu cầu nhận lại.

Đối với 01 (Một) xe đạp màu trắng, không nhãn hiệu, yên xe phía sau có sợi dây băng màu vàng đen đỏ là tài sản của bị cáo, dùng làm công cụ phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.

Đối với 01 (Một) đôi dép nhựa màu trắng (loại dép tổ ong), tất cả đều đã qua sử dụng bị cáo không yêu cầu nhận lại.

Đối với con dao Thái Lan và đèn pin do bị cáo Đ ném bỏ trong quá trình bỏ chạy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cao Lãnh đã tiến hành truy tìm nhưng không tìm được.

Về trách nhiệm dân sự: Ông H đã nhận lại đủ 16 trái sầu riêng mà bị cáo Đ cắt trộm, do sầu riêng còn non không bán được đã hư hỏng, ông H yêu cầu bị cáo Đ bồi thường thiệt hại số tiền 8.023.000 đồng. Bị cáo đã bồi thường xong số tiền trên cho ông H và từ chối không nhận lại 16 trái sầu riêng nêu trên. Ông H không có yêu cầu gì thêm.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 20/5/2025 của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Đồng Tháp) đã quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và nêu quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Đến ngày 04/6/2025, bị cáo Nguyễn Văn Đ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo, cải tạo, thử thách tại địa phương.

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thừa nhận Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 20/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Đồng Tháp) kết án bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng. Bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo, cải tạo, thử thách tại địa phương với lý do bị cáo đã khắc phục hậu quả, chủ vườn thấy hoàn cảnh khó khăn nên đồng ý giảm tiền bồi thường cho bị cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp phát biểu quan điểm, phân tích các tình tiết và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đánh giá kết quả xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm và khẳng định việc Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Đồng Tháp) kết án bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng quy định của pháp luật. Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã có xét đến nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo, nên hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Đ là phù hợp. Nay bị cáo kháng cáo có nêu các tình tiết, lý do xin giảm nhẹ hình phạt, xin án treo. Tuy nhiên do hình phạt áp dụng đã phù hợp, nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đ, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo.

Tại phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Văn Đ không tranh luận. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Bị cáo Nguyễn Văn Đ là người đã trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, biết trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng đêm 14/11/2024 đến sáng ngày 15/11/2024, bị cáo dùng dao cắt trộm 16 trái sầu riêng, với tổng trọng lượng 50kg, có giá trị là 8.023.000 đồng tại vườn của ông Đinh Văn H thuộc tổ 7, ấp 1, xã P, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tổ 7, ấp 1, xã B, tỉnh Đồng Tháp) nhằm mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn Đ đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Đồng Tháp) kết án bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự tại Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 20/5/2025 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2] Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo do đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ đó, Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 09 (chín) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo. Nay, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo, xin cải tạo tại địa phương với lý do đã khắc phục hậu quả, chủ vườn thấy hoàn cảnh khó khăn nên đồng ý giảm tiền bồi thường cho bị cáo. Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy mức hình phạt mà Toà án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp như đã phân tích ở trên và phù hợp với nhân thân bị cáo, nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của Bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ.

[3] Xétthấy phátbiểu củaKiểm sátviêntạiphiên toàphúcthẩm làcócăncứ chấpnhận.

[4] Do kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn Đ.

Giữ nguyên quyết định của Bản án hình sự sơ thẩm số 30/2025/HS-ST ngày 20 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp (nay là Tòa án nhân dân khu vực 9 – Đồng Tháp) về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ.

2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/02/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các phần quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

Cỡ chữ