vanban.org

Bản án 228/2025/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Phạm Văn Đ, bà Nguyễn Thị H, buộc bị đơn ông Nguyễn Minh N, bà Lê Thị Cẩm T trả cho ông Đ, bà H số tiền 34.

Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn với số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng). Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thi hành xong khoản tiền trên, thì phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 củ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Minh N, bà Lê Thị Cẩm T trả cho nguyên đơn số tiền hụi 34.700.000 đồng"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Phạm Văn Đ, bà Nguyễn Thị H, buộc bị đơn ông Nguyễn Minh N, bà Lê Thị Cẩm T trả cho ông Đ, bà H số tiền 34.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 228/2025/DS-ST
Ngày: 09-9-2025
V/v “tranh chấp hụi”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Luân. Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Hoàng Giang.

Ông Trần Văn Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Châu Sơn Ca - là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3-Cà Mau.

Ngày 09 tháng 9 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 3 – Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 241/2025/TLST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2025 về việc “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 151/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 8 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1970 (có mặt).

Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975 (có mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã N, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Minh N (có mặt).

Bà Lê Thị Cẩm T (vắng mặt).

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp B, xã N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 3 năm 2025 cùng các văn bản kèm theo và tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm Văn Đ, bà Nguyễn Thị H trình bày:

- Ngày 30/7/2019 (âm lịch) ông Nguyễn Minh N và bà Lê Thị Cẩm T có mở dây hụi 1.000.000 đồng, gồm 60 phần (chưng), hụi khui mỗi tháng 02 lần vào ngày 15 và ngày 30 hàng tháng, ông Đ, bà H có tham gia 01 phần (chưng) hụi. Ông Đ, bà H đóng hụi đến lần thứ 43 thì ông N, bà T tuyên bố đình hụi. Tính hụi sống ông N, bà T nợ số tiền 43.000.000 đồng, sau đó có trả 10.000.000 đồng, còn nợ 33.000.000 đồng.

- Ngày 30/9/2020 (âm lịch) ông Nguyễn Minh N, bà Lê Thị Cẩm T có mở dây hụi 1.000.000 đồng, gồm 75 phần, hụi khui mỗi tháng 02 lần vào ngày 15 và ngày 30 hàng tháng, ông Đ, bà H có tham gia 01 phần hụi. Ông Đ, bà H đóng hụi đến lần thứ 13 thì ông N, bà T tuyên bố đình hụi. Tính hụi sống ông N, bà T nợ số tiền 13.000.000 đồng, sau đó có trả 10.000.000 đồng, còn nợ 3.000.000 đồng. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc bị đơn ông Nguyễn Minh N, bà Lê Thị Cẩm T trả cho nguyên đơn số tiền hụi 34.700.000 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).

Nguyên đơn rút lại yêu cầu số tiền 1.300.000 đồng (trừ tiền cò) đối với 02 dây hụi nêu trên.

Tại phiên tòa bị đơn ông Nguyễn Minh N trình bày:

Ông N có mở các dây hụi về thời gian mở hụi, số phần hụi nguyên đơn ông Phạm Văn Đ bà Nguyễn Thị H tham gia và việc đình hụi đúng như nguyên đơn trình bày. Ông N thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền đúng như nguyên đơn yêu cầu. Tuy nhiên do các hụi viên khác không đóng hụi chết cho ông nên không có tiền để thanh toán tiền nợ hụi cho nguyên đơn. Ông N không có ký tên nhận nợ nên không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của nguyên đơn.

Đối với bị đơn bà Lê Thị Cẩm T đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng bà T vắng mặt không có lý do và không có ý kiến gì yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Xét về thủ tục tố tụng: Ông Phạm Văn Đ, bà Nguyễn Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Minh N và bà Lê Thị Cẩm T trả tiền nợ hụi. Do đó, đây là tranh chấp dân sự về việc “Tranh chấp hụi” theo quy định tại Điều 26, Điều 35; Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 3-Cà Mau. Tòa án nhân dân khu vực 3-Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

[2] Xét về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Lê Thị Cẩm T được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Lê Thị Cẩm T theo quy định.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn ông Phạm Văn Đ, bà Nguyễn Thị H xác định, dây hụi mở ngày 30/7/2019 (âm lịch) nguyên đơn có tham gia 01 phần (chưng) hụi. Nguyên đơn đóng hụi đến lần thứ 43 thì ông N, bà T tuyên bố đình hụi, ông N, bà T nợ số tiền 33.000.000 đồng. Dây hụi mở ngày 30/9/2020 (âm lịch) nguyên đơn có tham gia 01 phần hụi. Nguyên đơn đóng hụi đến lần thứ 13 thì ông N, bà T tuyên bố đình hụi, ông N, bà T còn nợ số tiền 3.000.000 đồng. Tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền hụi 34.700.000 đồng. Bị đơn ông Nguyễn Minh N thừa nhận ông có mở các dây hụi về thời gian mở hụi, số phần hụi nguyên đơn ông Đ, bà H tham gia và việc đình hụi đúng như nguyên đơn trình bày. Bị đơn thừa nhận còn nợ nguyên đơn số tiền đúng như nguyên đơn yêu cầu. Tuy nhiên do các hụi viên khác không đóng hụi chết cho bị đơn nên không có tiền để thanh toán tiền nợ hụi cho nguyên đơn. Bị đơn không có ký tên nhận nợ nên không đồng ý trả tiền theo yêu cầu của nguyên đơn. Từ những căn cứ nêu trên, có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có tham gia giao dịch hụi là thực tế xảy ra và còn nợ tiền hụi đúng như nguyên đơn yêu cầu.

[4] Xét yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu bị đơn bà Lê Thị Cẩm T có trách nhiệm cùng với bị đơn ông N trả số tiền nợ hụi 34.700.000 đồng. Xét thấy trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, đã tống đạt hợp lệ cho bà T nhưng bà T vẫn vắng mặt và không có ý kiến gì đối với yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy bà T đã thừa nhận nợ nên không có ý kiến gì. Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên cần buộc bị đơn ông Nguyễn Minh N, bà Lê Thị Cẩm T trả cho nguyên đơn ông Phạm Văn Đ, bà Nguyễn Thị H số tiền 34.700.000 đồng là phù hợp.

[5] Xét đối với rút lại yêu cầu số tiền 1.300.000 đồng (trừ tiền cò) đối với 02 dây hụi nêu trên. Xét thấy việc rút yêu cầu của nguyên đơn là tự nguyện phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

[6] Xét về án phí: Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 217 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 471, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Phạm Văn Đ, bà Nguyễn Thị H, buộc bị đơn ông Nguyễn Minh N, bà Lê Thị Cẩm T trả cho ông Đ, bà H số tiền 34.700.000 đồng (Ba mươi bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).

Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn với số tiền 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng).

Kể từ ngày nguyên đơn có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị đơn không thi hành xong khoản tiền trên, thì phải chịu khoản tiền lãi chậm trả tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự.

Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí số tiền 1.735.000 đồng. Nguyên đơn không phải chịu án phí, nguyên đơn có nộp tạm ứng án phí số tiền 900.000 đồng, theo biên lai thu số 0004063 ngày 24 tháng 4 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3- Cà Mau) được hoàn lại.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án đựơc niêm yết công khai.

Cỡ chữ