vanban.org

Bản án 228/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 29/09/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Đ. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngà… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Đ phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC NINH
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 228/2023/HS-ST
Ngày: 29/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuyến

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Văn Lưu

2. Ông Nguyễn Văn Hiệp

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Thao – Thư ký TAND thành phố Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 227/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2023/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo:

Lò Văn Đ, sinh năm 1992; HKTT: Bản B, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn L, sinh năm 1960 và bà Lò Thị X, sinh năm 1966; Vợ: Quàng Thị T, sinh năm 1991; Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2016;

Tiền án: Tại bản án số 36/2021/HSST ngày 09/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xử phạt 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 BLHS. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt tù, ra trại ngày 28/01/2022, được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/7/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh, có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.

* Người bào chữa cho bị cáo Đ: Ông Hoàng Nhật H – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Ninh; có mặt ở điểm cầu trung tâm tại Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1980; HKTT: Thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh; có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lò Văn Đ là đối tượng lang thang, không nghề nghiệp. Khoảng 17 giờ ngày 11/7/2023, do thiếu tiền ăn tiêu cá nhân, Đ đi bộ lang thang trên địa bàn phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh xem ai có tài sản sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền ăn tiêu cá nhân. Khi đi vào trong chợ Đ thuộc khu Đ, phường N, thành phố B thì Đ đi đến dãy hàng bán thủy sản, quan sát thấy chị Nguyễn Thị Hồng L đang ngồi bán hàng có để một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, ốp bằng nhựa màu hồng trên mẹt phía sau bên phải chị L nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại. Đ quan sát xung quanh không có ai để ý nên tiến lại gần cái mẹt và dùng tay phải trộm chiếc điện thoại của chị L rồi bỏ đi. Lúc này, chị Trần Thị L1, sinh năm 1982; HKTT: Thôn A, xã L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh là người cùng bán hàng thủy sản gần chị L phát hiện nên hô hoán “Cướp, cướp”. Thấy vậy, Đ bỏ chạy ra hướng xóm tây Đọ Xá. Chị L1 và một số người dân đuổi theo khoảng 40m thì khống chế, giữ được Đ cùng chiếc điện thoại đã trộm cắp của chị L và trình báo Công an phường Ninh Xá, thành phố Bắc Ninh.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, màu xanh trắng, ốp bằng nhựa màu hồng đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0967148xxx.

Tại Kết luận định giá tài sản số 180/KL-HĐĐGTS ngày 12/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng của UBND thành phố Bắc Ninh kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, màu xanh trắng đã qua sử dụng có giá trị là 1.500.000 đồng; vỏ ốp điện thoại màu hồng đã qua sử dụng có giá trị là 15.000 đồng. Tổng trị giá là 1.515.000 đồng.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Ngày 12/7/2023, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh đã trả lại chị Nguyễn Thị Hồng L 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, màu xanh trắng, ốp bằng nhựa màu hồng đã qua sử dụng, bên trong gắn sim số 0967148xxx. Chị L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu Đ phải bồi thường gì thêm.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Ninh, Lò Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 184/CT-VKSTPBN ngày 14 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Lò Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại phiên tòa, bị cáo Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội giữ nguyên Cáo trạng truy tố; sau khi phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Lò Văn Đ từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/7/2023.

Bị cáo Lò Văn Đ nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về gia đình và xã hội.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào nhân nhân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án do Cơ quan điều tra tiến hành thu thập, đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ ngày 11/7/2023, tại chợ Đ thuộc khu Đ, phường N thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Lò Văn Đ đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5, màu xanh trắng, đã qua sử dụng, được ốp bằng nhựa màu hồng của chị Nguyễn Thị Hồng L. Trị giá chiếc điện thoại 1.500.000 đồng, vỏ ốp điện thoại màu hồng có giá 15.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 1.515.000 đồng.

Giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng, tuy nhiên bị cáo đã bị kết án 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 BLHS tại bản án số 36/2021/HSST ngày 09/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội Do đó, lần phạm tội này của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 BLHS như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân, vì vậy cần phải có một mức hình phạt nghiêm khắc phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, HĐXX nhận thấy:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa xét xử sơ thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị hại là chị Nguyễn Thị Hồng L có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo Lò Văn Đ được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX nhận thấy cần cách ly bị cáo Lò Văn Đ khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có thể giáo dục bị cáo ý thức tuân thủ pháp luật, trở thành con người có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại – chị Nguyễn Thị Hồng L đã nhận lại chiếc điện thoại và không yêu cầu bị cáo Đ phải bồi thường khoản tiền nào khác nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Gia đình bị cáo Đ thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt: Lò Văn Đ 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 12/7/2023.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo Lò Văn Đ 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn Đ.

3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ