- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phùng Bảo K phạm tội “Cướp giật tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 171 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ H | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 228 /2023/HS-ST Ngày 25/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN B, THÀNH PHỐ H
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Phương Lan
Bà Nguyễn Thị Thu Huyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Đắc Toàn, là thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Lan Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận B, thành phố H, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 198/2023/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 262/2023/QĐ- ST ngày 11 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo: Họ và tên: Phùng Bảo K, sinh năm 1990; Giới tính: Nam; HKTT: thôn Lương A, xã H, huyện T, tỉnh Y; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, sinh hoạt tại Chi bộ thôn K, Đảng bộ xã L, huyện T, tỉnh Y. Hiện đang bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo quyết định số 48 ngày 21/6/2023 của Uỷ ban kiểm tra – Huyện Uỷ Trấn Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phùng Quốc B, sinh năm 1963 (đã chết); con bà: Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 1969; Có vợ: Nguyễn Thị Ngọc A, sinh năm 1994; có 02 con: lớn năm năm 2016, nhỏ sinh năm 2021; Gia đình có 02 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất; Danh bản, chỉ bản số 310 lập ngày 13/6/2023 tại công an quận B; Tiền án, tiền sự: không;
Bị cáo bị bắt khẩn cấp ngày 05/6/2023. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố Hà Nội.
(Có mặt tại phiên tòa) *Người bị hại: anh Phạm Minh Đ, sinh năm 2002 (Vắng mặt) HKTT: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh T Cư trú: Số 19, ngõ 193/220/95 P, phường P, quận B, Thành phố H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên Phùng Bảo K nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu sài. Khoảng 22 giờ ngày 04/6/2023, K đi xe khách từ Yên Bái xuống Hà Nội sau đó đi bộ đến đường X, quận C, Thành phố H (đối diện cổng trường Đại học Quốc gia Hà Nội). Tại đây, K gặp anh Phạm Minh Đ Hlà lái xe của hãng xe ôm công nghệ Grab nên K đã giả vờ là người Hàn Quốc nói giọng tiếng việt như người nước ngoài rồi nói với anh Đ “Tôi là người Hàn Quốc” và thuê anh Đ chở đến toà S1 chung cư Goldmark city, 136 Hồ Tùng Mậu, Phú Diễn, Bắc Từ Liêm, Hà Nội nhằm mục đích sẽ chiếm đoạt tài sản là điện thoại của anh Đ . Anh Đ đồng ý và điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Wave alpha màu đen BKS 17K3-2258 chở K đến địa chỉ trên. Khi đến nơi, K mượn điện thoại của anh Đ để gọi cho người thân xuống đón sau đó bảo anh Đ chở xuống hầm gửi xe toà S1 để cùng lên lấy đồ. Khi anh Đ điều khiển xe xuống hầm K tiếp tục mượn anh Đ điện thoại để gọi người thân. Anh Đ đưa cho K mượn 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh rồi K tự gọi vào số của mình là 0975538083 giả vờ nói chuyện sau đó K bảo với anh Đ đến nhầm toà và yêu cầu anh Đ phải chở sang toà khác. Lợi dụng lúc anh Đ đi xe ra cửa lấy vé, K nhanh chóng cầm điện thoại của anh Đ bỏ chạy khỏi hầm toà S1 nhằm chiếm đoạt chiếc điện thoại trên. Quá trình K bỏ chạy thì bị bảo vệ toà nhà là anh Phạm Văn C (SN 1992, HKTT: Bằng Lương, Thái Nguyên, Thái Thuỵ, Thái Bình) và anh Nguyễn Tiến T (SN 1994, HKTT: Tiểu khu V4 thị trấn Phú yên, Phù Yên, Sơn La) thấy K có biểu hiện nghi vấn nên đã giữ lại. Cùng lúc đó anh Đ chạy đến và có lực lượng công an nên đã trình báo sự việc.
Tại cơ quan điều tra Phùng Bảo K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và khai đâu là lần đầu thực hiện hành vi Cướp giật tài sản.
Đối với 01 điện thoại iphone 11 màu xanh thu giữ của Phùng Bảo K, quá trình điều tra xác định là tài sản của anh Phạm Minh Đ. Do đó, ngày 13/6/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra – công an quận B đã ra quyết định xử lý vật chứng số 68 trao trả chiếc điện thoại trên cho anh Đ , anh Đ nhận lại tài sản và không có ý kiến gì.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Đ đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Về vật chứng của vụ án: 01 USB bên trong chứa dữ liệu điện tử là đoạn video sự việc có liên quan nên chuyển theo hồ sơ vụ án; 01 điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen, 01 áo sơ mi ngắn tay sọc kẻ vàng đen, 01 mũ lưỡi chai màu xanh, có ghi chữ là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự quận B để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung trên.
Bản cáo trạng số 188/CT - VKS ngày 11/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận B quyết định truy tố bị cáo Phùng Bảo K về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 điều 171; Điều 38; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Vật chứng vụ án:
Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen;
Tịch thu tiêu hủy 01 áo sơ mi ngắn tay sọc kẻ vàng đen, 01 mũ lưỡi chai màu xanh do không còn giá trị sử dụng.
Về dân sự: không
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016 của UBTV Quốc Hội về mức thu, miễn giảm thu nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí hình sự 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Do hoàn cảnh khó khăn, bị cáo đã phạm tội, bị cáo rất ân hận mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về đoàn tụ cùng gia đình cùng vợ nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
.Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra – Công an quận Bắc Từ Liêm; Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về nội dung: Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu chứng cứ khác, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 23 giờ ngày 04/6/2023, tại toà S1 chung cư Goldmark city, 136 H, phường P, quận B, Thành phố H, Phùng Bảo K có hành vi mượn điện thoại của anh Đ gọi điện cho người thân, giả vờ gọi điện thoại, lợi dụng lúc anh Đ đi lấy xe máy, K đã cầm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu xanh trị giá 6.500.000 đồng của anh Phạm Minh Đ bỏ chạy, nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị bảo vệ tòa nhà bắt quả tang. Như vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội:“Cướp giật tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1, Điều 171 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận B truy tố hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là một Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam nhưng bị cáo không tìm một việc làm hợp pháp, bị cáo thuê xe grap của anh Đ giả vờ là người Hàn Quốc, không biết tiếng Việt Nam, thuê anh Đ chở đi tìm nhà người thân, lợi dụng lòng tin của anh Đ để thực hiện hành vi cướp giật tài sản, nhằm mục đích bán tài sản lấy tiền tiêu sài. Do vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo khỏi đời sống chung xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét thái độ của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn, ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu bị đưa ra xét xử, tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại để xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về tình tiết tăng nặng: không
.Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai nhận tội, ăn năn hối cải, lần đầu bị đưa ra xét xử, tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Về dân sự: Không
Vật chứng vụ án:
01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen là của bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung công; 01 áo sơ mi ngắn tay sọc kẻ vàng đen, 01 mũ lưỡi chai màu xanh bị cáo không yêu cầu nhận lại, do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội;
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Phùng Bảo K phạm tội “Cướp giật tài sản”
Căn cứ khoản 1 Điều 171; Điều 38; Điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
2. Xử phạt: Bị cáo Phùng Bảo K 14 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt khẩn cấp 05/6/2023;
Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Căn cứ các Điều 136, 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội;
3. Về dân sự: không
4. Vật chứng vụ án:
Vật chứng vụ án:
Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, IMEI1: 355103077226440, IMEI2: 355103077226457 (Đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong)
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi ngắn tay sọc kẻ vàng đen (đã qua sử dụng), 01(một) mũ lưỡi chai màu xanh, có ghi chữ Adidas (đã qua sử dụng)
(Theo biên bản giao nhận vật chứng số 231/23 ngày 22/8/2023 giữa cơ quan Cảnh sát Điều tra – Công an quận B với Chi cục Thi hành án dân sự quận B)
5. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm;
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng - VKS ND quận B - Công an quận B - Chi cục THA dân sự quận B - Lưu HS | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Tuyết |