- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trương Thanh M tranh chấp ly hôn anh Nguyễn Hoàng E"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thanh M cho chị Trương Thanh M được ly hôn anh Nguyễn Hoàng E.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 228/2023/HNGĐ-ST Ngày 21 - 8- 2023 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Biện Thị Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Hà
Ông Nguyễn Hoài Phong
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Diễm My là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau.
Ngày 21 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 357/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 7 năm 2023 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trương Thanh M, sinh năm 1986 (có mặt).
- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng E, sinh năm 1980 (có mặt).
Cư trú tại: Ấp ĐG, xã TT, huyện ĐD, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn chị Trương Thanh M trình bày:
- Về hôn nhân: Chị Trương Thanh M và anh Nguyễn Hoàng E chung sống vào ngày 20/10/2004, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TT. Sau khi kết hôn vợ chồng sống riêng, quá trình chung sống cách nay 7 năm do anh Hoàng E có quan hệ với người phụ nữ khác, khi này vợ chồng tự hoà giải và tiếp tục chung sống. Cuối năm 2020 vợ chồng tiếp tục mâu thuẫn do anh Hoàng E nhắn tin có quan hệ với người phụ nữ khác, không quan tâm chị và gia đình, thường hay uống rượu. Ngoài ra, quá trình chung sống anh Hoàng E có đánh chị nhiều lần, có lần đánh và kéo chân chị ra đường, cha chồng chị có la rầy anh Hoàng E nhưng anh Hoàng E không sửa đổi. Ngày 28/11/2022 vợ chồng cự cải anh Hoàng E bóp cổ và đập đầu chị xuống gạch chị có mời trưởng ấp đến chứng kiến nhưng không có lập biên bản. Vào tháng 4/2023 chị có nộp đơn ly hôn tại Toà án thì anh Hoàng E hứa hẹn khắc phục lo cho gia đình nhưng sau khi chị rút đơn thì anh Hoàng E không khắc phục được. Chị M xác định quá trình sống với anh Hoàng E chị bị áp lực về kinh tế, từ khi chị rút đơn khởi kiện tại Toà án cho đến nay thì anh Hoàng E không sửa đổi tính tình, lo cho gia đình. Nay chị xác định không còn tình cảm xin ly hôn anh Hoàng E.
- Về con chung: Có hai người con chung là Nguyễn Phúc H, sinh ngày 17/2/2006 và Nguyễn Ngọc H, sinh ngày 02/9/2008 đang do chị M và anh Hoàng E nuôi dưỡng. Khi ly hôn con chung có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi dưỡng, cấp dưỡng không đặt ra.
- Về tài sản chung: Tự Thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về nợ người khác và người khác nợ lại: Không có.
* Bị đơn anh Nguyễn Hoàng E trình bày:
- Về hôn nhân: Ngày tháng năm kết hôn 20/10/2004, hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TT là đúng. Sau khi kết hôn thì sống riêng, quá trình chung sống vợ chồng có cự cải, cách nay 7 năm anh có đi chạy đò có người phụ nữ chọc ghẹo anh thì anh có tránh né chứ không có quan hệ nam nữ, khi anh đi làm ở Phú Quốc và Thái Lan có nhắn tin qua lại với người phụ nữ khác. Chị M nộp đơn ly hôn thì anh có nhận khắc phục không nhắn tin cho người phụ nữ đó nữa và chăm lo cho gia đình. Về nguyên nhân mâu thuẫn là có nhưng không đúng như chị M trình bày. Khoảng năm 2020 vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do chị M không cho quan hệ vợ chồng, vào ngày 28/11/2022 tiếp tục xảy ra mâu thuẫn thì anh có đè bóp cổ chị M chứ không có đập đầu chị M xuống gạch như chị M trình bày. Khi mới kết hôn vợ chồng cũng có cự cải chứ không có đánh nhau. Nay chị M xin ly hôn anh không đồng ý vì nay anh không còn nhắn tin người phụ nữ khác, không đi làm bảo hiểm và đã chăm lo cho gia đình.
- Về con chung: Có hai người con chung đang do chị M và anh Hoàng E nuôi dưỡng. Trường hợp ly hôn con có nguyện vọng sống với ai thì người đó nuôi dưỡng, cấp dưỡng không đặt ra.
- Về tài sản và nợ: Anh Hoàng E không có ý kiến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hôn nhân: Chị Trương Thanh M và anh Nguyễn Hoàng E kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã TT, huyện ĐD vào ngày 11/4/2004 đúng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Chị M có yêu cầu ly hôn, anh Hoàng E không đồng ý. Xét thấy, chị M và anh Hoàng E xác định quá trình chung sống giữa anh chị đã xãy ra mâu thuẫn, chị M đã nộp đơn ly hôn tại Toà án vào tháng 4/2023 cho đến tháng 5/2023 Toà án hoà giải thì chị M rút đơn khởi kiện để vợ chồng tiếp tục chung sống nhưng không được. Xét thấy, quá trình chung sống khi xảy ra mâu thuẫn thì anh Hoàng E có hành vi bóp cổ chị M, hành vi này là bạo lực gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Mặc khác, hiện tại chị M cũng xác định không còn tình cảm và cương quyết ly hôn nên xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh chị không còn tồn tại, nếu tiếp tục duy trì cũng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị M, cho chị M được ly hôn anh Hoàng E.
Về con chung: Xét thấy, các cháu Nguyễn Phúc H và Nguyễn Ngọc H đang do chị M và anh Hoàng E nuôi dưỡng. Các cháu đều có nguyện vọng được sống cùng chị M là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, tiếp tục giao các cháu cho chị M nuôi dưỡng là phù hợp. Vấn đề cấp dưỡng chị M không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ người khác, người khác nợ lại: Chị M và anh Hoàng E không có yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm chị M phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các điều 51, 53, 56, 57, 58, 81 và 82 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí tòa án;
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thanh M cho chị Trương Thanh M được ly hôn anh Nguyễn Hoàng E.
2. Về nuôi con chung: Giao các cháu Nguyễn Phúc H (nam), sinh ngày 17/02/2006 và Nguyễn Ngọc H (nữ), sinh ngày 02/9/2008 cho chị Trương Thanh M được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
2.2. Anh Nguyễn Hoàng E không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trương Thanh M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng tại biên lai số 0014449 ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đầm Dơi; chị M đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nôi nhaän:
| - TAND tænh Caø Mau; - VKSND huyện Đầm Dơi; - Chi cục THADS huyện Đầm Dơi; - UBND xã TT; - Löu VT, hoà sô vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký)- Caùc ñöông söï; Biện Thị Nhung |