vanban.org

Bản án 228/2021/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng thuê nhà

TAND tỉnh Long An Tuyên án 17/11/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nh n một ph n kháng cáo của các bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L.

Hủy và đ nh chỉ giải quyết một ph n Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2021/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã K đối v i yêu c u khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị D và yêu c u phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L về tranh chấp quyền sử dụng đất tại … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng thuê nhà — án dân sự — "Nguyễn Văn Mười, Nguyễn Thị Diền "Tranh chấp hợp đồng thuê nhà" Nguyễn Văn Thà, Võ Thị Liệu"
  • Tòa quyết gì? Chấp nh n một ph n kháng cáo của các bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 228/2021/DS-PT
Ngày: 17-11-2021
V/v tranh chấp hợp đồng thuê nhà

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN

- Tnh phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương

Các Thẩm phán:

1. Bà Đinh Thị Ngọc Yến

2. Ông Đặng Văn Những

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Đức – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Cẩm Chi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 116/2021/TLPT-DS ngày 14 tháng 5 năm 2021 về việc tranh chấp hợp đồng thuê nhà.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2021/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Toà án nhân dân thị xã K bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 163/2021/QĐ-PT ngày 25 tháng 6 năm 2021; Thông báo mở phiên tòa số 384/TB-TA ngày 11 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 197/2021/QĐ-PT ngày 07 tháng 7 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

1.1. Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1963

1.2. Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1969

C ng địa chỉ: đường H, khu phố M, phường M1, thị xã K, tỉnh Long An.

2. Bị đơn (phản tố):

2.1. Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1965

Địa chỉ: Quốc lộ S, khu phố M, phường B, thị xã K, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Huỳnh Văn T1, sinh năm 1973

Địa chỉ: Khu B, thị trấn C, huyện C1, tỉnh Long An.

(Giấy ủy quyền công chứng số 2232 ngày 10/4/2021 tại Văn phòng Công chứng L, thị trấn C, huyện C1, tỉnh Long An)

2.2. Bà Võ Thị L, sinh năm 1966

Địa chỉ: Quốc lộ S, khu phố M, phường B, thị xã K, tỉnh Long An.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: y ban nhân dân thị xã K, tỉnh Long An.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn V – Chức vụ: Chủ tịch

Địa chỉ: Đường S2, phường M1, thị xã K, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND thị xã K: Ông Dương Tuấn A – Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường.

Người kháng cáo: Ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ghi ngày 1 /6/2020 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị D trình bày:

Năm 2013, ông T, bà L đã chuyển nhượng cho ông M, bà D nhà đất thửa đất 1474, tờ bản đồ số 7, tọa lạc phường B, thị xã K, tỉnh Long An có chiều ngang 05m chiều dài hết đất, t ng diện t ch là 106m2 theo biên nh n ngày 28/10/2013. Trong đó có ph n đất do nhà nư c quản lý có căn nhà do ông T l p ráp th a thu n giao cho ông M, bà D toàn bộ nhà và đất theo hợp đồng thuê nhà ngày 01/8/2016 do ông T, bà L ký tên. Thời hạn thuê là 01 năm. Hết thời hạn 01 năm ông T không trả, theo biên bản làm việc ngày 06/5/2019 của Đảng y Phường B th thống nhất cho ông T, bà L ở đến hết tháng 6 năm 2019 nhưng hết thời gian này ông T, bà L đã l p rào ch n tại vị tr tiếp giáp giữa ph n đất thửa 1473 (mpt) là đất lộ gi i v i thửa đất 1474 và căn nhà mà ông T, bà L đã chuyển nhượng và cho rằng trư c đây ông T, bà L chỉ chuyển nhượng ph n đất thửa 1474 chứ không có bán căn nhà trên thửa đất này nên rào ch n không cho vào nhà.

Ông M, bà D yêu c u ông T, bà L phải trả căn nhà trên ph n đất tại thửa 1474 và thửa 2887 và được quyền hưởng dụng, sử dụng ph n đất thửa 1473 (mpt) do nhà nư c quản lý diện t ch là 16m x 5m = 79.5m2, vị tr tiếp giáp Quốc lộ S và thửa 1474 cho ông M, bà D.

Buộc ông T, bà L tháo d hàng rào đã ch n và chấm dứt mọi hành vi cản trở việc sử dụng nhà và đất tại thửa 1474 và thửa 2887 và quyền hưởng dụng, sử dụng ph n đất thửa 1473 (mpt) do Nhà nư c quản lý diện t ch: dài 16m x ngang 5m là 79.5m2, vị tr tiếp giáp Quốc lộ S và thửa 1474 của ông M, bà D.

Buộc ông T bà L trả tiền thuê nhà t ngày 01/8/2017 đến ngày 01/8/2019 là 24 tháng x 2.500.000 đồng là 60.000.000 đồng.

Đối v i yêu c u phản tố của ông T, bà L về việc yêu c u Tòa án công nh n ph n đất thửa 1473 (mpt), diện t ch 79.5m2, vị tr tiếp giáp Quốc lộ S và thửa 1474 của ông M, bà D cho ông T, bà L thì ông M, bà D không đồng ý v ông T, bà L đã th a thu n giao quyền hưởng dụng, sử dụng ph n này cho ông M, bà D.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L trình bày:

Vào năm 1989 ông T, bà L được UBND xã B1 cấp một lô đất cất nhà ở, đến ngày 14/2/2003 được UBND huyện M2 cấp giấy chứng nh n quyền sử dụng đất diện t ch 777m2, trong đó đất th là 400m2, thửa đất 1474, đất vườn là 377m2, thửa đất 1659, tờ bản đồ số 7 tọa lạc xã B1 (nay là phường B); Thửa đất 1474 ông T, bà L đã chuyển nhượng cho ông N một ph n, ông T2 một ph n còn lại là 106m2, đến ngày 8/3/2007 th nh n được thông báo của Phòng Tài nguyên và Môi trường hủy một ph n diện là t ch 50,44m2 nên thửa 1474 còn lại là 55m2; Đến ngày 28/10/2013 ông T, bà L chuyển nhượng cho ông M, bà D thửa đất 1474 diện t ch 106m2, do không đủ diện t ch nên có c t tiếp một ph n đất diện tích 52m2 tại thửa 1659 chuyển cho ông M, bà D cho đủ diện t ch 106m2; Lúc chuyển nhượng trên ph n đất có căn nhà cấp bốn, Ông T, bà L xác định là chỉ bán đất chứ không bán nhà nhưng sau đó ông T, bà L có thuê lại ở để cấn tr vào giá trị căn nhà và nay đã cấn tr xong nên đã giao nhà và đất cho ông M, bà D t tháng 7/2019. Do đó, yêu c u Tòa án không chấp nh n yêu c u khởi kiện của ông M, bà D về yêu c u trả tiền thuê nhà;

Ông T, bà L có đơn phản tố yêu c u Tòa án công nh n quyền sử dụng đất tại một ph n đất tại thửa 1473 (mpt), diện t ch đo đạc là 79,5m2 có vị tr tiếp giáp Quốc lộ 62 và thửa đất 1474 của ông M, bà D v ph n đất này ông T, bà L đã sử dụng đến nay đã trên 30 năm và trong quá trình mua bán, chuyển nhượng v i ông M, bà D cũng không có th a thu n chuyển nhượng ph n đất này.

Ý kiến người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan y ban nh n d n thị xã

trình bày như sau:

Tại Văn bản số 3744/UBND-TNMT ngày 30/11/2021 xác định ph n đất ông T, bà L yêu c u công nh n v i diện t ch đo đạc là 79,5m2 có vị tr tiếp giáp Quốc lộ S và thửa đất 1474 của ông M, bà D nằm trong hành lang an toàn giao thông đường bộ Quốc lộ S, là đất Nhà nư c quản lý chưa giao quyền sử dụng.

Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp c n, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không thành, nên quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2021/DS-ST ngày 26/3/2021 của Tòa án nhân dân thị xã K đã căn cứ vào các Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 147 Bộ lu t Tố tụng dân sự và Điều 12, Điều 25 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của y ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án; Áp dụng các Điều 472, Điều 500, Điều 117, Điều 122 Bộ lu t Dân sự năm 2015 và Điều 492 Bộ lu t Dân sự năm 2005; Điều 118 Lu t Nhà ở năm 2014; Điều 100, Điều 203 Lu t Đất đai năm 2013.

Tuyên xử:

1. Chấp nh n một ph n yêu c u khởi kiện của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị D đối v i ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L về việc “tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng thuê nhà”.

Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L phải liên đ i trả cho ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị D số tiền thuê nhà là 40.000.000 đồng.

iao ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị D quyền hưởng dụng ph n đất diện t ch 79.5m2, thuộc thửa đất số 1473 (mpt) tờ bản đố số 7 tọa lạc tại Phường B, thị xã K, tỉnh Long An có vị tr tiếp giáp: Đông giáp: Nguyễn Văn M; Tây giáp: Quốc lộ S; Nam giáp: Nguyễn Văn T3; B c giáp: Nguyễn Văn T (Theo mảnh tr ch đo bản đồ địa ch nh số 03-2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thị xã K, tỉnh Long An duyệt ngày 19/1/2021) đến khi Nhà nư c có quy định m i về đất đai đối v i ph n đất này.

Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L tháo d hàng rào đã ch n, chấm dứt mọi hành vi cản trở việc sử dụng nhà và đất của ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị D tại căn nhà và đất thuộc thửa số 1474 và thửa số 2887 và ph n đất thửa số 1773 (mpt), diện t ch 79.5m2, tờ bản đồ số 7, tọa lạc phường B, thị xã K, tỉnh Long An.

2. Không chấp nh n một ph n yêu c u khởi kiện của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị D đối v i ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L về việc đòi số tiền thuê nhà là 20.000.000 đồng.

3. Không chấp nh n yêu c u phản tố của ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L về việc yêu c u công nh n quyền sử dụng đất ph n đối v i diện t ch 79.5m2, thuộc thửa đất số 1473 (mpt) tờ bản đố số 7 tọa lạc tại Phường B, thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

4. Buộc ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị D có nghĩa vụ liên đ i trả cho ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L số tiền san lấp mặt bằng tại ph n đất có diện t ch 79.5m2, thuộc thửa đất số 1473 (mpt) tờ bản đố số 7 tọa lạc tại Phường B, thị xã K, tỉnh Long An là 30.390.000 đồng.

5. Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L có nghĩa vụ liên đ i trả cho ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị D số tiền chi ph tố tụng là 4.980.000 đồng.

6. Về án ph : Miễn toàn bộ án ph cho ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L. Buộc ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị D phải liên đ i chịu số tiền 2.519.500đ án ph dân sự sơ thẩm sung ngân sách Nhà nư c nhưng được khấu tr tiền án ph dân sự sơ thẩm đã nộp là 1.500.000 đồng, theo biên lai thu số 0009303 ngày 07/7/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã K. Ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị D còn phải tiếp tục nộp số tiền chênh lệch là 1.019.500 đồng.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo và hư ng dẫn về quyền và nghĩa vụ thi hành án của đương sự.

Ngày 07/4/2021, bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm; yêu c u cấp phúc thẩm hủy hoặc sửa bản án sơ thẩm theo hư ng giải quyết triệt để vụ án. Tuyên vô hiệu hợp đồng thuê nhà, bác yêu c u đòi tiền thuê nhà; tuyên vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 28/10/2013; bác yêu c u hưởng dụng đối v i thửa đất số 1473; giải quyết h u quả theo pháp lu t hoàn trả cho nhau những g đã nh n; bác yêu c u tháo d rào ch n đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; Bị đơn không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không th a thu n được v i nhau về việc giải quyết vụ án. Ông M, bà D có mặt vẫn giữ nguyên ý kiến như đã tr nh bày tại cấp sơ thẩm.

Ông Huỳnh Văn T1 đại diện cho ông T cho rằng khi ông T và bà L chuyển nhượng thửa đất số 1474, 2887 cho ông M và bà D th không có bán căn nhà cấp 4 và nhà l p ráp cho nguyên đơn; còn các hợp đồng thuê nhà đất bị đơn ký v i nguyên đơn là để hợp thức về thủ tục nhà đất nên bị đơn không đồng ý trả tiền thuê nhà cho nguyên đơn.

Bà Võ Thị L và người đại diện hợp pháp của y ban nhân dân thị xã K v ng mặt, nhưng có đơn đề nghị Tòa án phúc thẩm xét xử v ng mặt hợp lệ.

UBND thị xã K có gửi cho Tòa án cấp phúc thẩm Công văn số 2312/UBND-TNMT ngày 14/7/2021. Ông Nguyễn Văn M giao nộp b sung cho Tòa án bản sao Hợp đồng thuê nhà ngày 01/4/2014 và các hồ sơ đăng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa số 2887 và thửa số 1474.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu:

Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện đúng thủ tục tố tụng t khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của m nh.

Về nội dung yêu c u kháng cáo:

Các bên đương sự khởi kiện tranh chấp đất đai tại một ph n thửa đất số 1473, diện t ch 79,5m2, tờ bản đồ số 7, tại phường B, thị xã K, tỉnh Long An nhưng chưa được hòa giải cơ sở theo quy định của Lu t đất đai và Tòa án cấp sơ thẩm không yêu c u nguyên đơn nộp tạm ứng án ph đối v i yêu c u này nhưng Tòa án cấp sơ thẩm vẫn thụ lý giải quyết là không đúng quy định pháp lu t nên c n hủy, đ nh chỉ giải quyết một ph n Bản án sơ thẩm đối v i yêu c u tranh chấp đất đai. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm t nh tiền tạm ứng án ph là chưa chính xác.

Bị đơn yêu c u đưa UBND Phường B vào tham gia tố tụng, nhưng UBND Phường B không phải là cơ quan được giao quản lý thửa đất số 1473, tờ bản đồ số 7, đất thuộc phạm vi hành lang an toàn giao thông đường bộ của Quốc lộ S, tại phường B, thị xã K, tỉnh Long An nên kháng cáo này của bị đơn không có căn cứ.

Các bên đương sự không có tranh chấp và không có yêu c u khởi kiện đối v i Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại các thửa đất số 1474, 2887, tờ bản đồ số 7, loại đất: T, BHK, tại phường B, thị xã K, tỉnh Long An và Tòa án cũng không thụ lý giải quyết nên bị đơn kháng cáo ph n này là không có căn cứ pháp lu t.

Theo hồ sơ án và qua diễn biến tại phiên tòa, có chứng cứ chứng minh bị đơn đã chuyển nhượng, mua bán nhà và đất tại thửa đất số 1474, thửa số 2887 cho nguyên đơn và nguyên đơn đã nhiều l n ký hợp đồng cho bị đơn thuê lại nhà và đất nên bị đơn kháng cáo cho rằng không có thuê nhà v không có bán nhà đất cho nguyên đơn là không có cơ sở nên việc Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn tháo d hàng rào ch n bằng lư i kẽm; chấm dứt hành vi cản trở sử dụng nhà đất là có căn cứ; nhưng Tòa sơ thẩm chấp nh n quyền hưởng dụng của nguyên đơn tại một ph n thửa đất số 1743, diện t ch 79,5m2 là chưa đảm bảo quy định pháp lu t.

T nh n định trên, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nh n một ph n kháng cáo của bị đơn; hủy đ nh chỉ giải quyết một ph n Bản án sơ thẩm về tranh chấp quyền sử dụng đất tại một ph n thửa đất số 1473, diện tích 79,5m2, tờ bản đồ số 7, đất tại phường B, thị xã K, tỉnh Long An; giữ nguyên về ph n nghĩa vụ trả tiền thuê nhà; nghĩa vụ tháo d rào ch n và tiền chi phí san lấp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L làm đúng thủ tục và nộp trong hạn lu t định, nên vụ án được xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp lu t tranh chấp: Nguyên đơn yêu c u Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả tiền thuê nhà đất t ng cộng 60.000.000 đồng, khôi phục lại nhà tiền chế (ngang 05m x dài 12m); chấm dứt hành vi cản trở sử dụng nhà đất tại thửa đất số thửa 1474, thửa 2887 và yêu c u được quyền hưởng dụng một ph n thửa đất số 1473, diện t ch 79,5m2, tờ bản đồ số 7, loại đất ODT, tại phường B, thị xã K, tỉnh Long An. Bị đơn phản tố yêu c u Tòa án công nh n một ph n thửa đất số 1473, diện t ch 79,5m2 thuộc quyền sử dụng của bị đơn. Các bên đương sự không tranh chấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1474, thửa số 2887, tờ bản đồ số 7, loại đất: T, BHK, tại phường B, thị xã K, tỉnh Long An, nhưng Tòa sơ thẩm xác định quan hệ pháp lu t là: “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà và tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là không chính xác. Tòa phúc thẩm xác định lại là: “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ lu t Tố tụng dân sự, nên vụ án vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã K, tỉnh Long An theo thủ tục sơ thẩm.

Theo Công văn số 2312/UBND-TNMT ngày 14/7/2021 của UBND thị xã K xác định: “diện tích 7 ,5m2, một phần thửa đất số 1473, tờ bản đồ địa chính số 7, ấp C, xã B1 (nay là phường B, thị xã K); phần đất này nằm trong phạm vi hành lang an toàn giao thông đường bộ của Quốc lộ S, không phải loại đất ở đô thị như Mảnh trích đo địa chính số 03-2021 ngày 1 /01/2021 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã thể hiện”, nhưng Tòa sơ thẩm thụ lý giải quyết đối v i yêu c u được quyền hưởng dụng của nguyên đơn và yêu c u phản tố của bị đơn tại một ph n thửa đất số 1473, diện t ch 79,5m2, tờ bản đồ số 7, loại đất: ODT, tại khu phố M, phường B, thị xã K, tỉnh Long An. Xét thấy, các yêu c u này thuộc trường hợp người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ lu t Tố tụng dân sự, nên c n hủy một ph n Bản án sơ thẩm và đ nh chỉ giải quyết đối v i một ph n yêu c u khởi kiện của nguyên đơn và yêu c u phản tố của bị đơn theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 218, Điều 311 của Bộ lu t Tố tụng dân sự. Ông M và bà D có nhu c u sử dụng một ph n thửa đất số 1473, diện t ch 79,5m2, tờ bản đồ số 7, đất hành lang an toàn giao thông đường bộ của Quốc lộ S, tại khu phố M, phường B, thị xã K, tỉnh Long An thì có trách nhiệm liên hệ v i Cơ quan quản lý Nhà nư c có thẩm quyền về đất đai để được giải quyết theo quy định pháp lu t.

Ngoài ra, bị đơn không phản tố yêu c u Tòa án buộc nguyên đơn phải trả lại giá trị đất san lấp tại một ph n thửa 1473, có khối lượng là 387,96m3, nhưng Tòa sơ thẩm giải quyết buộc nguyên đơn trả cho bị đơn số tiền 30.390.000 đồng là vượt quá phạm vi yêu c u khởi kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 5 của Bộ lu t Tố tụng dân sự, nhưng nguyên đơn không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị và tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn đồng ý tiếp tục hỗ trợ cho bị đơn tiền chi phí san lấp như Bản án sơ thẩm đã tuyên xử, nên Tòa án cấp phúc thẩm c n công nh n, tôn trọng sự tự nguyện định đoạt của nguyên đơn về ph n hỗ trợ chi ph san lấp cho bị đơn.

Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn ông M và bà D rút lại một ph n yêu c u khởi kiện đối v i ông T và bà L về yêu c u khôi phục hiện trạng như ban đ u ph n nhà l p ráp (nhà tiền chế) có chiều ngang 05m x chiều dài 12m g n liền v i một ph n thửa đất số 1474 và một ph n thửa số 1473, tờ bản đồ số 7, tại khu phố M, phường B, thị xã K, tỉnh Long An mà bị đơn đã tự ý tháo d , nhưng Tòa sơ thẩm không đ nh chỉ giải quyết đối v i yêu c u này là thiếu xót nên c n rút kinh nghiệm.

Bị đơn kháng cáo cho rằng Tòa sơ thẩm không đưa UBND Phường B, thị xã K vào tham gia tố tụng là vi phạm tố tụng, nhưng theo Công văn số 60/CV-UBND ngày 20/8/2020 của UBND Phường B thì “Theo họa đồ thể hiện phần đất này có mặt tiền giáp với đất Nhà nước nhưng UBND Phường B không có quyết định quản lý phần đất trên” và theo Quyết định số 1765/QĐ-UBND ngày 11/4/2017 của UBND thị xã K th UBND Phường B không được UBND thị xã K giao quản lý thửa đất số 1473. Cho nên kháng cáo không có căn cứ.

Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của UBND thị xã K và bà Võ Thị L v ng mặt, nhưng các đương sự đều có đơn đề nghị Tòa án xét xử v ng mặt hợp lệ. Căn cứ theo quy định tại Điều 296 của Bộ lu t Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Xét kháng cáo của bị đơn về hợp đồng thuê nhà đất thấy rằng: Theo văn bản Hợp đồng thuê nhà đất ngày 01/8/2016 giữa ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị D v i ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L th có căn cứ xác định giữa nguyên đơn v i bị đơn đã xác l p và thực hiện hợp đồng thuê nhà, đất tại các thửa đất số 2887, 1474, tờ bản đồ số 7, diện t ch: 106m2, loại đất: ODT, tại phường B, thị xã K, tỉnh Long An, g n v i đất có một căn nhà cấp 4, xây dựng năm 2008; có kết cấu: Móng, cột, đà BTCT, tường xây gạch, nền bê tông, xà gồ gỗ và thép, mái tôn; hệ thống điện và cấp thoát nư c đ y đủ; hiện trạng nhà không còn sử dụng, có dấu hiệu xuống cấp, hư h ng nhiều nơi, mái tôn rỉ sét và ph n nhà l p ráp (ngang 05m, dài 12m). Thời hạn thuê là 01 năm, t nh t ngày 01/8/2016 đến hết ngày 01/8/2017, v i giá thuê là 2.500.000 đồng/tháng. Thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, ông T và bà L đã thanh toán cho ông M và bà D 30.000.000 đồng. Cho nên bị đơn cho rằng không có xác l p hợp đồng thuê nhà đất v i nguyên đơn là không căn cứ.

Xét thấy, sau khi hết hạn hợp đồng vào ngày 01/8/2017 th bị đơn tiếp tục sử dụng nhà, đất thuê cho đến ngày 01/8/2019 m i giao trả lại căn nhà cấp 4 và tháo d ph n nhà l p ráp mà không được sự đồng ý của nguyên đơn. Đồng thời, bị đơn dựng rào ch n bằng lư i kẽm cao 01m, ngang 5m trên một ph n thửa số 1473 (đất công), tiếp giáp thửa đất số 1474 nhằm cản trở nguyên đơn quản lý, sử dụng thửa đất số 1474, thửa số 2887 và căn nhà cấp 4 g n liền v i đất. Cho nên, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả tiền thuê cho nguyên đơn trong thời hạn thuê và trong thời gian ch m trả lại tài sản là ph hợp v i quy định tại khoản 4 Điều 482, Điều 500 của Bộ lu t Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nh n một ph n yêu c u trả tiền thuê nhà đất của nguyên đơn đối v i ph n tài sản thuê trên một ph n đất 79,5m2 thuộc đất hành lang bảo vệ đường Quốc lộ S là không ph hợp, nhưng nguyên đơn không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị và tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn đồng ý như Bản án sơ thẩm đã tuyên nên Tòa án cấp phúc thẩm c n công nh n, tôn trọng sự tự nguyện định đoạt của nguyên đơn về tiền thuê nhà đất. Như v y, sau khi cấn tr nghĩa vụ trả tiền thuê nhà đất của bị đơn và tiền hỗ trợ chi ph san lấp của nguyên đơn [4] th bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền là 9.610.000 đồng.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn tháo d rào ch n, chấm dứt mọi hành vi cản trở việc sử dụng nhà đất của nguyên đơn là có căn cứ pháp lu t. Bị đơn kháng cáo cho rằng căn nhà cấp 4 và nhà l p ráp trên đất vẫn thuộc sở hữu của bị đơn nên không đồng ý trả tiền thuê nhà và rào ch n lại là không có căn cứ nên yêu c u kháng cáo này không có cơ sở.

T phân t ch nêu trên, có căn cứ chấp nh n một ph n kháng cáo của bị đơn; c n phải hủy và đ nh chỉ giải quyết, sửa một ph n Bản án sơ thẩm như ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa. Các đương sự không phải chịu án ph dân sự phúc thẩm; điều chỉnh lại án ph dân sự sơ thẩm cho ph hợp v i quy định pháp lu t.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c, g khoản 1 Điều 217, Điều 218, khoản 2, 4 Điều 308, Điều 309, Điều 311 của Bộ lu t Tố tụng dân sự.

Chấp nh n một ph n kháng cáo của các bị đơn ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L.

Hủy và đ nh chỉ giải quyết một ph n Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2021/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã K đối v i yêu c u khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị D và yêu c u phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn T, bà Võ Thị L về tranh chấp quyền sử dụng đất tại một ph n thửa đất số 1473, diện t ch 79,5m2, tờ bản đồ số 7, đất hành lang an toàn giao thông đường bộ của Quốc lộ S, tại khu phố M, phường B, thị xã K, tỉnh Long An.

Đ nh chỉ giải quyết đối v i một ph n yêu c u khởi kiện của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị D về yêu c u ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L khôi phục hiện trạng ban đ u nhà l p ráp (nhà tiền chế) có chiều ngang 05m x chiều dài 12m g n liền v i một ph n thửa đất số 1474, loại đất ODT và một ph n thửa số 1473, tờ bản đồ số 7, tại khu phố M, phường B, thị xã K, tỉnh Long An.

Sửa một ph n Bản án dân sự sơ thẩm số 10/2021/DS-ST ngày 26 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân thị xã K.

Căn cứ vào các khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 148, Điều 157, Điều 165 của Bộ lu t Tố tụng dân sự và Điều 12, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của y ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án;

Căn cứ các Điều 472, Điều 482, Điều 500 của Bộ lu t Dân sự năm 2015.

Tuyên xử;

1. Chấp nh n yêu c u khởi kiện của ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị D đối v i ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L về tranh chấp hợp đồng thuê nhà.

Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L phải liên đ i trả cho ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị D số tiền là 9.610.000 đồng.

Kể t khi có đơn yêu c u thi hành án, người có nghĩa vụ trả tiền nếu ch m trả th phải trả thêm tiền lãi đối v i số tiền ch m trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 357 của Bộ lu t Dân sự năm 2015 tương ứng v i thời gian ch m trả tại thời điểm thanh toán.

Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L phải tháo d hàng rào ch n bằng lư i kẽm cao 01m, ngang 5m trên một ph n thửa số 1473, tiếp giáp thửa đất số 1474 và chấm dứt mọi hành vi cản trở việc ông Nguyễn Văn M, bà Nguyễn Thị D quản lý, sử dụng nhà và đất thuộc các thửa số 1474, 2887, tờ bản đồ số 7, loại đất: ODT, đất tọa lạc tại Phường B, thị xã K, tỉnh Long An.

2. Về chi ph tố tụng: Buộc ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L có nghĩa vụ liên đ i trả cho ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị D số tiền chi ph tố tụng là 4.980.000 đồng.

3. Về án ph sơ thẩm:

Ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị L được miễn toàn bộ tiền án ph sơ thẩm do thuộc trường hợp là thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nư c có thẩm quyền cấp iấy chứng nh n gia đình liệt sĩ.

Ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị D không phải chịu án ph dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn M và bà Nguyễn Thị D 1.500.000 đồng tiền tạm ứng án ph sơ thẩm theo Biên lai thu số 0009303 ngày 02 tháng 7 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã K, tỉnh Long An.

4. Về án ph phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu án ph phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Lu t Thi hành án dân sự th người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thu n thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Lu t Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Lu t Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp lu t kể t ngày tuyên án./.

Cỡ chữ