vanban.org

Bản án 228/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị B và anh Trương Minh G.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trương Ngọc Uyên N, sinh ngày 02/12/2012 và cháu Trương Ngọc Y, sinh ngày 05/12/2015 cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận chị B không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con chung cho anh G, không ai có quyền c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị Bích xin ly hôn với anh Trương Minh Giáp"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị B và anh Trương Minh G.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
TP CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 228/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 17-9-2019
V/v Ly hôn giữa chị B và anh
Giáp.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Phụng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thơm

2. Ông Huỳnh Thanh Vũ

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Thanh Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 151/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2019 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung, chia tài sản khi ly hôn, nghĩa vụ chung. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 156/2019/QĐXX-ST ngày 13 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị B, sinh năm 1988; Trú tại: Ấp T, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ. (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Trương Minh G, sinh năm 1983; Trú tại: Ấp Đ, xã Đ, huyện C, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn xin ly hôn và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn chị Trần Thị B trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Vào khoảng năm 2011, do mai mối, tìm hiểu chị và anh Trương Minh G tự nguyện tiến tới hôn nhân, có tổ chức đám cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống tình cảm hạnh phúc nhưng sau này phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải nhau nên chị B bỏ về nhà cha mẹ ruột sống ly thân từ tháng 06/2018 cho đến nay. Nay chị B nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu xin ly hôn với anh G.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung: Cháu Trương Ngọc Uyên N, sinh ngày 02/12/2012 và cháu Trương Ngọc Y, sinh ngày 05/12/2015, hiện các cháu đang chung sống với chị. Chị B yêu cầu được giành quyền tiếp tục nuôi 02 cháu đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nghĩa vụ chung: Không có.

Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm anh Trương Minh G vắng mặt không rõ lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị B và anh Trương Minh G.

Về nuôi con chung: Giao cháu Trương Ngọc Uyên N, sinh ngày 02/12/2012 và cháu Trương Ngọc Y, sinh ngày 05/12/2015 cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận chị B không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; Nghĩa vụ chung: Tách ra giải quyết ra thành vụ kiện khác khi các bên phát sinh tranh chấp.

Về án phí Hôn nhân và gia đình: Chị B phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã thẩm tra tại phiên tòa, qua kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật: Theo đơn khởi kiện và yêu cầu của nguyên đơn thì tranh chấp giữa các bên được xác định là tranh chấp về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung, chia tài sản chung khi ly hôn, nghĩa vụ chung. Tòa án thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc tham gia tố tụng: Bị đơn anh Trương Minh G vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xét xử vắng mặt anh G.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân của chị B và anh G được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định được xác định là hôn nhân hợp pháp. Chị B thừa nhận thời gian đầu chung sống, tình cảm vợ chồng rất hạnh phúc nhưng thời gian gần đây phát sinh mâu thuẩn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẩn là do vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải nhau dẫn đến ly thân. Chị B xác định thời gian sống ly thân nhưng vợ chồng không quan tâm lẫn nhau. Chị B nộp đơn khởi kiện xin ly hôn, Tòa án thụ lý giải quyết vụ án cũng tiến hành hòa giải nhiều lần để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh G vắng mặt không lý do. Tại phiên tòa, chị B cương quyết xin ly hôn vì xác định tình cảm vợ chồng thật sự không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh G, anh G tiếp tục vắng mặt không lý do. Ngoài ra, tại Biên bản xác minh ngày 23/05/2019 xác định: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do anh G làm ăn bị thua lỗ, từ đó phát sinh mâu thuẫn và vợ chồng sống ly thân từ tháng 06/2018 cho đến nay. Điều đó chứng tỏ, mâu thuẫn tình cảm vợ chồng giữa chị B và anh G đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chị B xin ly hôn với anh G là có cơ sở nên chấp nhận.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung: Cháu Trương Ngọc Uyên N, sinh ngày 02/12/2012 và cháu Trương Ngọc Y, sinh ngày 05/12/2015. Chị B yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, từ lúc sống ly thân, các cháu đang sống ổn định bên chị B và hiện các cháu đang học trường gần nhà. Hiện tại, chị B cũng có công việc, thu nhập ổn định và đã nuôi cháu đầy đủ về vật chất lẫn tinh thần. Mặc khác, hai cháu đều là nữ, còn nhỏ rất cần được sự chăm sóc của mẹ. Quá trình sống ly thân, anh G không quan tâm, chăm sóc, giáo dục con chung. Chính vì vậy, để ổn định sự phát triển bình thường về mặt tâm lý cho các cháu và thuận tiện trong việc chăm sóc nên cần thiết tiếp tục cho các cháu sống ổn định như ban đầu. Căn cứ vào Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, giao 02 cháu cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Ghi nhận chị B không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung; Về nghĩa vụ chung: Chị B xác định không có nhưng do xét xử vắng mặt nên không rõ ý kiến của anh G về tài sản chung và nợ chung. Do đó, tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có phát sinh tranh chấp.

Án phí: Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Nguyên đơn chị B phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Từ những căn cứ trên việc Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Cho ly hôn giữa chị Trần Thị B và anh Trương Minh G là có cơ sở, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị B và anh Trương Minh G.

2. Về nuôi con chung: Giao cháu Trương Ngọc Uyên N, sinh ngày 02/12/2012 và cháu Trương Ngọc Y, sinh ngày 05/12/2015 cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành. Ghi nhận chị B không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con.

Dành quyền thăm nom chăm sóc giáo dục con chung cho anh G, không ai có quyền cản trở. Tuy nhiên, anh G không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu có thì chị B có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom đối với anh G.

Vì lợi ích mọi mặt của con khi cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

3. Về tài sản chung; Về nghĩa vụ chung: Tách ra giải quyết thành vụ iện khác khi có phát sinh tranh chấp.

4. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Trần Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu số 001613 ngày 24 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ. Công nhận chị B đã nộp xong.

5. Án tuyên công khai, có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ