vanban.org

Bản án 228/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 18/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự vµ §iều 47 Bộ luật hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong theo đúng quy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TN
TỈNH TN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 228/2018/HSST
Ngày 18/6/2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN

Hội D xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Huệ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hà Thị D

2. Ông Phạm Đức L

- T ký phiên tòa: Ông Nguyễn Kao H – T ký Tòa án nhân dân thành phố TN

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương T1 - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2018 tại Hội trường tòa án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 213/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 229/2018/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên Nguyễn Văn T, sinh ngày 07 tháng 10 năm 1975

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở xóm Đ, phường B, thành phố TN; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Làm ruộng ; trình độ học vấn: 7/12. Con ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1934, con bà Đỗ Thị M, sinh năm 1942 (đã chế t). Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ năm; có vợ Lưu Thị T3, sinh năm 1979 (đã ly hôn), có 01 con, sinh năm 2001. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2018 đến nay.

(Có mặt tại phiên tòa)

- Người chứng kiến: Anh Đinh Duy D, sinh năm 1983, trú tại xóm N, xã Q, thành phố TN, tỉnh TN, (vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội Dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồ i 06 giờ 45 phút ngày 02/4/2018, tổ công tác của Công an phường Đ, thành phố TN đang làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Đ, phường B thành phố TN, phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện liên quan đến ma túy. Khi tổ công tác yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên tự khai tên là Nguyễ n Văn T. Tổ công tá c phát hiện thu giữ trên tay trái của T 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng (T khai đó là Heroine). Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định.

Tiế n hà nh cân số chấ t mà u trắ ng thu giữ đượ c củ a Nguyễ n Văn

T ngày 02/4/2018 có khối lượng là 0,717 gam và lấ y mẫ u gử i giá m đị nh ký hiệ u.

Tại Kết luận giám định số 548/KL-PC54 ngày 09/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Chất bột màu trắng trong mẫ u T 5 gử i giám định là chất ma túy, loại Heroine có khố i lượng 0,717 gam.

Tại cơ quan điều tra Nguyễ n Văn T khai nhận: khoảng 06 giờ 30 phút ngày 02/4/2018, T đi từ nhà tại xóm Đ, phường B, thành phố TN đến khu vực nhà văn hóa xóm Đ, phường B, thành phố TN để mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, T gặp và mua của một nam thanh niên (không rõ lai lịch, địa chỉ) 01 gói Heroine với giá 50.000đ. Sau đó , T đi tìm nơi để sử dụng thì bị tổ công tác Công an phườ ng Bẩ m phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng như nêu trên.

Lời khai nhận tộ i của Nguyễn Văn T phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bả n mở niêm phong , cân xác định trọng lượng , kế t luậ n giá m đị nh, lờ i khai của người chứ ng kiế n, và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu T5. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN chờ xử lý.

Tại bản Cáo trạng số 223/CT-VKSTPTN ngày 07 tháng 5 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như như nội dung bản cáo trạng truy tố.

Trong phần luận tội tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN tóm tắt nội dung vụ án, phân tích các căn cứ quy kết bị cáo Nguyễn Văn T về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; đánh giá nhân thân; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Từ đó đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; xử phạt Nguyễn Văn T từ 18 đến 24 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự vµ §iều 47 Bộ luật hình sự năm 2015: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu T5

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, thừa nhận việc truy tố và xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là không oan, đúng người, đúng tội, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Phần lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố TN, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan Điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và vật chứng thu giữ. Hội đồng xử có đủ căn cứ kết luận: Hồ i 06 giờ 45 phút, ngày 02/4/2018, tại khu vực xóm Đ, phường B, thành phố TN, Nguyễn Văn T đang có hà nh vi tà ng trữ 0,717g Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tá c Công an phườ ng B, thành phố Thá i Nguyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo biết ma túy là vật cấm được Nhà quản lý nhưng vấn cố tình đi tìm mua 0,717 gam Heroine để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Viện kiểm sát thành phố TN truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Nội dung điều 249 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy...thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

………….

c, Heroine…có khối lượng từ 0,1 đến dưới 05 gam”.

Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an ở địa phương.

Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy: Nguyễn Văn T chưa có tiền án tiền sự. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015. Xét thấy, bị cáo là người nghiện ma túy, không chịu cai nghiện, tu dưỡng rèn luyện bản thân, nên đã vi phạm pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải lên một mức án tương xứng với mức độ hành vi phạm tội để bị cáo thấy được sự nghiêm khắc của pháp luật đối với bị cáo để bị cáo có ý thức chấp hành pháp luật, rèn luyện bản thân cải tạo trở thành người tốt.

Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo tại phiên tòa có phần nhẹ, không tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

Vật chứng của vụ án: 01 bì niêm phong ký hiệu T5 là vật cấm và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy

Về hình phạt bổ sung và án phí

Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt tù lẽ ra Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng theo biên bản xác minh, và tại phiên tòa bị cáo khai là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.

Về nguồ n gố c số Heroine bị thu giữ theo Nguyễn Văn T khai mua của một nam thanh niên không quen biế t ở khu vực nhà văn hóa xóm Đ, phường B, thành phố TN. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người nam thanh niên trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN không có cơ sở điều tra làm rõ xử lý.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 30 (Ba mươi) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2018. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự vµ §iều 47 Bộ luật hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong theo đúng quy định ký hiệu T5.

Biên bản giao nhận vật chứng số 228 ngày 19/4/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN.

3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật Phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đ án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà Nước.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ