- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Thu H - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 228/2018/HSPT Ngày 22 -10 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Lượng.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Thành Dương.
Bà Lê Hồng Hương.
- Thư ký Tòa án: Đoàn Thị Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 206/2018/HSPT ngày 10 tháng 9 năm 2018 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H. Do có kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2018/HSST ngày 24 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.
- Bị cáo bị kháng nghị:
Họ và tên: Nguyễn Thị Thu H, sinh ngày: 20/12/1989 tại Hà Nội; Nơi cư trú: ấp L, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1952 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị Kim T, sinh năm:1952; có chồng: Ngô Trường G, sinh năm 1983 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/04/2018 đến ngày 20/4/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Đến ngày 22/6/2018, bị bắt tạm giam về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” cho đến nay. (có mặt).
- Bị hại: Anh Hoàng Văn T1, sinh năm: 1991.
Nơi cư trú: Ấp V, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lộc Duy T2, sinh năm: 1986.
Nơi cư trú: Ấp M, xã C, huyện X, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị Thu H là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể:
Vào khoảng 23 giờ 00 ngày 11/4/2018, Nguyễn Thị Thu H đi bộ dọc Quốc Lộ 20 đến ngã tư Dầu Giây tìm kiếm tài sản của người dân để trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài cá nhân và mua ma túy để sử dụng. Trên đường đi, H vào chợ đầu mối nông sản Dầu Giây để trộm cắp nhưng không thực hiện được.
Khi đi ngang qua nhà ông Hoàng Văn K sinh năm 1962, thuộc ấp V, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. H nhìn thấy chiếc xe mô tô biển số 60R2 – 3271 của anh Hoàng Anh T1 sinh năm 1991, trú tại ấp V, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai đang dựng trước cửa nhà không có người trông coi, H đã lén lút lại gần dắt trộm xe mô tô 60R – 3271 ra đường Quốc Lộ 20 đẩy xe đi về chợ đầu mối nông sản Dầu Giây để tiêu thụ nhưng không được. Sau đó H tiếp tục dắt xe mô tô 60R2 – 3271 về ngã tư Dầu Giây tìm nơi tiêu thụ. Đến khoảng 0h40 phút sáng ngày 12/4/2018, H nhờ anh Nguyễn Phú T3 sinh năm 1998 trú tại ấp 3, xã P, huyện H, tỉnh Đồng Nai sửa giúp xe nhưng không được. Sau đó H bị anh T1 là chủ xe đuổi theo phát hiện, đưa về công an xã B lập biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng tang vật.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 341/KL-HDĐG ngày 18/04/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Thống Nhất kết luận: xe mô tô hiệu BOSS, loại xe nữ, biển số 60R2 - 3271, số khung OAH8H002305, số máy SB8A-H002305 màu nâu, dung tích 97cm3, bánh căm, thắng đùm đã qua sử dụng có giá trị còn lại là 2.400.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2018/HSST ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất đã:
Áp dụng Khoản 1 Điều 173; Điểm h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H 08 (tám) tháng cải tại không giam giữ, được trừ 09 ngày đã bị tạm giữ x 03 = 27 ngày, bị cáo còn phải chấp hành 07 (bảy) tháng 03 (ba) ngày. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo trong thời gian cải tại không giam giữ.
Giao cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Thị Thu H trong thời gian cải tạo không giam giữ.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 02/8/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất ban hành quyết định kháng nghị số: 02/QĐ-VKS-HS, kháng nghị một phần về hình phạt của bản án số 48/2018/HSST ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H; đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm theo hướng không áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thu H mức hình phạt cải tạo không giam giữ.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất về hình thức và thời hạn đúng quy định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Xét hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thu H là đối tượng nghiện ma túy có hộ khẩu thường trú ấp L, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai; có chồng là Ngô Trường G có 03 con đều giao cho bên cha mẹ chồng chăm sóc; riêng đứa thứ tư không đăng ký khai sinh và hiện không rõ ở đâu. Qua xác minh ngày 02/08/2018 đã xác định bản thân bị cáo từ 2016 đến nay bỏ địa phương, sống lang thang không nơi cố định; không trực tiếp nuôi dưỡng các con, thỉnh thoảng về thăm con nhưng không được gia đình chồng chấp nhận. Bị cáo không có nghề nghiệp, việc làm ổn định. Tuy nhiên, tại bản án số 48/2018/HSST ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất đã áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 về hình phạt tuyên xử bị cáo 08 (tám) tháng cải tạo không giam giữ. Mặt khác, khi bị cáo phạm tội chiếm đoạt chiếc xe mô tô trị giá 2.400.000 đ vào ngày 11/04/2018 trong quá trình khởi tố điều tra đã được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú thì đến ngày 05/06/2018 bị cáo lại tiếp tục phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy nên đã bị bắt giam lại để tiếp tục xử lý. Như vậy, bản án của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất tuyên phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ là không phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, về hình phạt đã tuyên là vi phạm tố tụng quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015. Vì vậy, đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất và sửa án sơ thẩm theo hướng không áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 với mức hình phạt nêu trên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tội danh: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Thu H khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm đã mô tả.
Vào khoảng 23 giờ 30 ngày 11/04/2018 tại ấp V, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị Thu H đã có hành vi trộm cắp tài sản của anh Hoàng Văn T1 chiếc xe mô tô hiệu BOSS trị giá 2.400.000 đồng, khi H dắt xe đi tìm nơi tiêu thụ thì bị phát hiện xử lý.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thu H bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội.
Về hình phạt và nội dung kháng nghị:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 08 (tám) tháng cải tại không giam giữ về tội “Trộm cắp tài sản”, được trừ 09 ngày đã bị tạm giữ x 03 = 27 ngày, bị cáo còn phải chấp hành 07 (bảy) tháng 03 (ba) ngày. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan, tổ chức được giao giám sát, giáo dục người bị kết án nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Ngày 02/8/2018, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất ban hành quyết định kháng nghị số: 02/QĐ-VKS-HS, kháng nghị một phần về hình phạt của bản án số 48/2018/HSST ngày 24/7/2018 của Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu H; đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm theo hướng không áp dụng Điều 36 Bộ luật Hình sự để xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thu H mức hình phạt cải tạo không giam giữ.
Qua nghiên cứu hồ sơ, ngày 11/4/2018, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản bị tạm giữ từ ngày 12/04/2018 đến ngày 20/4/2018 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Trong quá trình khởi tố vụ án trộm cắp tài sản, ngày 05/6/2018 bị cáo tiếp tục phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Việc Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thu H 08 (tám) tháng cải tại không giam giữ là không tương xứng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, không đảm bảo tính phòng ngừa và giáo dục chung; vi phạm Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015 về áp dụng hình phạt.
Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân, tài sản hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Cần có mức án đủ nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Vì vậy, xét kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất là có căn cứ chấp nhận.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Về án phí: Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất được chấp nhận, do đó bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điểm b, Khoản 1, Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
1. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất, sửa bản án sơ thẩm.
2. Áp dụng Khoản 1, Điều 173; Điểm h, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu H 08 (tám) tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày bắt giam 22/06/2018, được trừ thời gian tạm giam trước đây từ ngày 12/04/2018 đến ngày 20/04/2018.
3. Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai; - TAND huyện Thống Nhất (2); - VKSND huyện Thống Nhất; - Công an huyện Thống Nhất; - Chi cục THADS huyện Thống Nhất; - Phòng PV27 - CA tỉnh Đồng Nai; - Bị cáo; - Lưu (5). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Lượng |