- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn C + Vũ Văn Ch phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Văn Ch, Lý Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 228/2018/HS-ST Ngày 10/9/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Đức
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Trung
Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Lương Byă - Kiểm sát viên.
Ngày 10/9/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 195/2018/TLST-HS ngày 17/7/2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 231/2018/QĐXXST-HS ngày 30/8/2018, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: LÝ VĂN C (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 13/9/1998; tại tỉnh Đắk Nông;
Nơi cư trú: Thôn T, xã D, huyện N, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Dao; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Kim A, sinh năm: 1975 và bà: Lý Mùi G, sinh năm 1974; chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2018, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an Tp. Buôn Ma Thuột - Có mặt.
2. Họ và tên: VŨ VĂN CH (Tên gọi khác: Không); sinh ngày 15/6/1989; tại tỉnh Nam Định;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm X, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; Nơi ở hiện nay: Thôn X, xã N, huyện N, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Thanh B, sinh năm: 1961 và bà: Bùi Thị M, sinh năm 1962; chưa có vợ, con; tiền sự: Không;
Tiền án: 01 (Ngày 25/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội Cướp giật tài sản, ngày 04/5/2016 chấp hành xong hình phạt tù).
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/4/2018, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an Tp. Buôn Ma Thuột - Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Trương Văn S; sinh năm 1995
Địa chỉ: Thôn 1, xã D, huyện N, tỉnh Đắk Nông - Có mặt.
- Người làm chứng:
1. Ông Phan Đ; sinh năm 1961
Địa chỉ: 426 Võ Văn K, phường X, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
2. Anh Phạm Văn N; sinh năm 1994
Địa chỉ: 83 Săm B, phường E, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lý Văn C và Vũ Văn Ch là đối tượng nghiện ma túy đá. Khoảng 17 giờ ngày 12/4/2018, C mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, mang biển số 48C1-095.44, số máy: 5C6K-129403, số khung: RLCS5C6K0DY129387 của anh Trương Văn S nói đi công việc thì anh S đồng ý. Sau đó, C điều khiển xe mô tô rủ Ch đến khu vực cầu sông Serepôk, xã H, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk mua ma túy đá về sử dụng, Ch không có tiền nhưng đồng ý đi để được sử dụng ma túy. C chở Ch đi đến khu vực cầu sông Serepôk đứng đợi một lát thì gặp một người phụ nữ (chưa rõ nhân thân, lai lịch), C hỏi mua ma túy đá với số tiền 3.200.000 đồng nhưng người phụ nữ nói không có đủ ma túy, C thỏa thuận đưa trước số tiền 2.800.000 đồng, khi có đủ ma túy sẽ đưa số tiền 400.000 đồng còn lại, thì người phụ nữ đồng ý và hẹn C đến ngày 13/4/2018 sẽ có đủ lượng ma túy mà C yêu cầu. Sau khi thỏa thuận xong, C và Ch về lại huyện N, tỉnh Đắk Nông.
Đến khoảng 09 giờ 30 phút ngày 13/4/2018, C chở Ch đi đến quán cà phê M ở đường Võ Văn K, phường X, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk để nhận ma túy. Tại đây, C đưa thêm cho người phụ nữ số tiền 400.000 đồng, người phụ nữ chỉ vào vỏ bao thuốc lá dưới đất và nói ma túy đá ở trong đó. Lúc này C ra lấy xe, còn Ch cầm vỏ bao thuốc lá lấy ra hai gói nylon chứa ma túy đá cầm trên tay phải rồi cùng C đi về. Khi C chở Ch đến khu vực trước số nhà 426 Võ Văn K, phường X, thành phố B, thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Tang vật thu giữ trong tay phải Ch đang cầm gồm: 02 gói nylon chứa chất rắn dạng tinh thể được niêm phong theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 403/GĐMT-PC54 ngày 20/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk, kết luận: Chất rắn dạng tinh thể đựng trong 02 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamin có tổng khối lượng 2,7052 gam.
Tại bản cáo trạng số 203/CT-VKS ngày 16/7/2018 của Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột truy tố các bị cáo Lý Văn C, Vũ Văn Ch, về tội: về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột đã luận tội, phân tích, chứng minh các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Lý Văn C, Vũ Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS. Xử phạt bị cáo Vũ Văn Ch từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Xử phạt bị cáo Lý Văn C từ 02 năm đến 02 năm 6 tháng tù.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 2,5539 gam ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định là tang vật của vụ án.
- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen Model A1332 của Lý Văn C; và 01 điện thoại di động hiệu Oppo của Vũ Văn Ch nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, mang biển số 48C1-09544, số máy: 5C6K-129403, số khung: RLCS5C6K0DY129387 cho anh Trương Văn S là chủ sở hữu hợp pháp quản lý sử dụng là phù hợp.
Các bị cáo Lý Văn C, Vũ Văn Ch không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì thêm, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, các bị cáo Lý Văn C, Vũ Văn Ch khai nhận: Vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 13/4/2018, tại khu vực trước số nhà 426 Võ Văn K, phường X, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, Lý Văn C và Vũ Văn Ch có hành vi Tàng trữ 2,7052 gam ma tuý, loại: Methamphetamine để sử dụng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột phát hiện bắt quả tang.
Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, biên bản phạm tội quả tang và lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Buôn Ma Thuột tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Lý Văn C, Vũ Văn Ch phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy ” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Qua đó có đủ căn cứ kết luận: Các bị cáo Lý Văn C, Vũ Văn Ch có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, với mục đích phục vụ cho nhu cầu bản thân với lượng ma túy thu giữ được là 2,7052 gam, loại Methamphetamine. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
…
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.
...”
Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm và làm mất ổn định trị an xã hội. Các bị cáo nhận thức được rằng, Methamphetamine là chất ma túy, đó là loại độc dược gây nghiện nên Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển, chiếm đoạt và sử dụng trái phép. Song do lối sống không lành mạnh, nghiện ngập, ý thức coi thường pháp luật, các bị cáo Lý Văn C, Vũ Văn Ch đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với mục đích phục vụ cho nhu cầu bản thân. HĐXX xét thấy cần thiết áp dụng mức hình phạt nghiêm minh tương ứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục riêng đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đời sống xã hội về loại tội phạm này.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Đối với bị cáo Vũ Văn Ch: Ngày 25/9/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, xử phạt 03 năm 06 tháng tù giam về tội Cướp giật tài sản, ngày 04/5/2016 mới chấp hành xong hình phạt tù nên tính đến ngày phạm tội lần này bị cáo Ch chưa được xóa án tích. Do đó bị cáo Ch phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Đối với bị cáo Lý Văn C: Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Lý Văn C là người dân tộc thiểu số, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên cần xem xét, áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo trong khi lượng hình, để giảm nhẹ một phần hình phạt, đồng thời thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta.
Đối với các hành vi và đối tượng khác liên quan trong vụ án:
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo Lý Văn C, Vũ Văn Ch, Công an thành phố Công an Tp. Buôn Ma Thuột đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo là phù hợp.
Đối với người phụ nữ bán ma túy cho các bị cáo nhưng không rõ nhân thân lai lịch. Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột vẫn chưa xác minh được nhân thân, lai lịch của người phụ nữ này. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Tp. Buôn Ma Thuột đã tách hành vi bán trái phép chất ma túy của người phụ nữ này ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy 2,5539 gam ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số: 403/GĐMT-PC54 ngày 20/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk là tang vật của vụ án.
- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen Model A1332 của Lý Văn C; và 01 điện thoại di động hiệu Oppo của Vũ Văn Ch là tài sản thuộc sở hữu của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
- Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, mang biển số 48C1-09544, số máy: 5C6K-129403, số khung: RLCS5C6K0DY129387 là tài sản của anh Trương Văn S, anh S không biết việc bị cáo Lý Văn C và Vũ Văn Ch sử dụng để đi mua ma tuý. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột ra quyết định xử lý vật chứng trả lại chiếc xe trên cho anh Trương Văn S là phù hợp, cần chấp nhận.
Về hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình thực hiện các quyết định điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo Lý Văn C, Vũ Văn Ch không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Các bị cáo Lý Văn C, Vũ Văn Ch phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Văn Ch, Lý Văn C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Vũ Văn Ch: 02 năm 06 tháng (hai năm sáu tháng) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/4/2018.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Lý Văn C: 02 năm (hai năm) tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 13/4/2018.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu, tiêu hủy 2,5539 gam ma tuý loại Methamphetamine còn lại sau giám định trong gói niêm phong số: 403/GĐMT-PC54 ngày 20/4/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Đắk Lắk là tang vật của vụ án.
- Trả lại 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu đen Model A1332 của Lý Văn C; và 01 điện thoại di động hiệu Oppo của Vũ Văn Ch là tài sản thuộc sở hữu của các bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
(Các vật chứng, tài sản có đặc điểm như trong biên bản giao nhân vật chứng ngày 17/7/2018).
- Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Buôn Ma Thuột trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, mang biển số 48C1-09544, số máy: 5C6K-129403, số khung: RLCS5C6K0DY129387 cho anh Trương Văn S là chủ sở hữu hợp pháp nhận quản lý, sử dụng.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Vũ Văn Ch, Lý Văn C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ Giám đốc kiểm tra I-TANDTC; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND Tp. Buôn Ma Thuột; - Công an Tp. Buôn Ma Thuột; - Chi cục THADS Tp. Buôn Ma Thuột; - Phòng HSNV CA tỉnh Đắk Lắk; - Chánh án TAND Tp. BMT - Bị cáo; Người liên quan - Lưu HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) VŨ VĂN ĐỨC |