- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Nguyễn Quang N-Nguyễn Lâm V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả lại tài sản vay.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 Thành lập Tòa án nhân dân cấp…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 227/2025/DS-ST Ngày: 03 - 11 - 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 - CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Ánh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Phạm Kim Ngọc.
2. Bà Trần Thị Bé Ngọc.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Phước Lộc - Thư ký viên, Tòa án nhân dân khu vực 11 - Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11 - Cần Thơ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2025/TLST-DS ngày 09 tháng 01 năm 2025 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 125/2025/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 178/2025/QĐST-DS ngày 29 tháng 9 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 180/2025/QĐST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Quang N; sinh năm: 1990.
Địa chỉ: Thôn T, xã S, tỉnh Quảng Trị (Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình cũ).
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Anh Lê Nguyên H; sinh năm: 2002. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số F H, phường C, Thành phố Hồ Chí Minh (Số F H, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương cũ).
Là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 12/12/2024).
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Lâm V; sinh năm: 1990. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp F, xã V, thành phố Cần Thơ (Ấp F, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang cũ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo nội dung đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn anh Nguyễn Quang N có người đại diện hợp pháp là anh Lê Nguyên H trình bày:
Vào ngày 08/11/2023 anh Nguyễn Lâm V có ký xác nhận mượn của anh Nguyễn Quang N số tiền 300.000.000 đồng. Việc xác nhận có lập thành văn bản và có chữ ký của anh V. Tuy nhiên, dù đã nhiều lần trao đổi, yêu cầu thanh toán nhưng anh V không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Do đó, anh N khởi kiện yêu cầu anh V trả lại cho anh N số tiền 300.000.000 đồng.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt nên không trình bày ý kiến.
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bị đơn anh Nguyễn Lâm V vắng mặt, không có lý do và không thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Nguyên đơn đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ: 1. Căn cước công dân của bị đơn (bản phô tô); 2. Căn cước công dân của nguyên đơn (bản sao); 3. Giấy xác nhận (bản phô tô và bản chính); 4. Đơn yêu cầu không hòa giải; 5.Hợp đồng ủy quyền; 6. Căn cước công dân của người được ủy quyền (bản sao); 7. Thông báo về việc khởi kiện; 8. Thông báo về việc cung cấp đị chỉ nhận văn bản tố tụng.
- Bị đơn đã giao nộp các tài liệu, chứng cứ: Không có.
- Tòa án thu thập các tài liệu, chứng cứ: 1. Biên bản xác minh ngày 15/4/2025; 2. Văn bản về việc xác minh thông tin cư trú, lý lịch của đương sự.
Các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: Không có.
Nội dung đã được các đương sự thống nhất: Không có.
Nội dung không được các đương sự thống nhất: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
- Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn anh Nguyễn Lâm V có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn anh Nguyễn Quang N số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu đồng).
+ Về án phí: Buộc bị đơn chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn trả lại số tiền đã mượn vào ngày 08/11/2023 theo “Giấy xác nhận”. Xét nội dung “Giấy xác nhận” thể hiện việc bị đơn có vay tiền của nguyên đơn nên về bản chất giữa nguyên đơn và các bị đơn đã giao kết hợp đồng theo quy định tại Điều 385 và Điều 463 của Bộ luật Dân sự. Quá trình thực hiện hợp đồng do các bị đơn vi phạm nghĩa vụ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp. Do đó, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn có nơi cư trú tại xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang cũ, nay là xã V, thành phố Cần Thơ. Căn cứ vào quan hệ pháp luật tranh chấp và quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; Nghị quyết số: 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Tòa án nhân dân xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 11 - Cần Thơ.
Về thủ tục tố tụng: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Lâm V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không chứng minh được vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Do đó, căn cứ vào quy định tại Điều 227 và Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Về pháp luật áp dụng: Hợp đồng vay tài sản (tiền) giữa các bên được xác lập vào ngày 08/11/2023 nên áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2015 để giải quyết tranh chấp.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Về hiệu lực của hợp đồng: Nguyên đơn anh Nguyễn Quang N yêu cầu bị đơn anh Nguyễn Lâm V trả số tiền đã vay (mượn) là 300.000.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình là có căn cứ và hợp pháp, nguyên đơn đã cung cấp cho Tòa án bản gốc “Giấy xác nhận” ngày 08/11/2023. Nội dung “Giấy xác nhận” thể hiện: “Tôi tên Nguyễn Lâm V SN 1990. Tôi xác nhận số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu đồng) của ông N cho tôi mượn ngày 8/11/2023 để lấy gạo của Nhà máy G. Nay tôi xác nhận số tiền trên là của ông N”, có chữ ký và chữ viết tên Nguyễn Lâm V. Kèm theo “Giấy xác nhận” là bản photo Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx, tên Nguyễn Lâm V; ngày sinh: 27/02/1990; nơi thường trú: Ấp F, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang. Theo Văn bản xác minh (tháng 7 năm 2025) của Công an xã V, thành phố Cần Thơ thì “Trên địa bàn xã V hiện tại là xã V 1 có người tên Nguyễn Lâm V; sinh năm: 1990; đăng ký thường trú: Ấp F, xã V, thành phố Cần Thơ. Trong hộ có 03 người là: Nguyễn Thị L, SN: 1970 (mẹ V) có mặt ở địa phương, Nguyễn Lâm B, S: 1992 (em V) không có mặt ở địa phương, Nguyễn lâm V. Hiện tại Nguyễn Lâm V không có mặt tại địa phương không rõ đi đâu, làm gì”. Xét thấy, khi khởi kiện, nguyên đơn đã gửi “Thông báo về việc khởi kiện” qua dịch vụ bưu chính cho bị đơn và nguyên đơn cung cấp được chứng cứ chứng minh bị đơn đã nhận được “Thông báo về việc khởi kiện” vào ngày 19/12/2024 tại địa chỉ Ấp F, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (Bút lục 04-05, 42-45). Nguyên đơn cũng cung cấp được chứng cứ chứng minh bị đơn đã nhận được “Đề nghị về việc đối thoại, thương lượng hòa giải ngoài Tòa án” vào ngày 24/5/2025 tại địa chỉ Ấp F, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (Bút lục 50-54). Như vậy, nguyên đơn đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú của bị đơn theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản nhưng bị đơn thay đổi nơi cư trú mà không thông báo cho nguyên đơn biết về nơi cư trú mới nên được coi là bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Bên cạnh đó, có chứng cứ chứng minh bị đơn biết được việc nguyên đơn khởi kiện bị đơn tại Tòa án nhưng bị đơn vẫn không liên hệ với Tòa án và với nguyên đơn (theo đề nghị của nguyên đơn) để giải quyết tranh chấp. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do và không thể hiện ý kiến hay phản đối đối với yêu cầu khởi kiện cũng như tài liệu, chứng cứ mà nguyên đơn đưa ra. Theo quy định tại Điều 91 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì: “Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó” và “đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Do đó, căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập hợp đồng vay tài sản vào ngày 08/11/2023 với nội dung thỏa thuận về tài sản nguyên đơn cho bị đơn vay là số tiền 300.000.000 đồng, không thỏa thuận về lãi suất và thời hạn vay. Bên cạnh đó, xét thấy hợp đồng vay tài sản giữa các bên đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự theo quy định tại Điều 117 của Bộ luật Dân sự năm 2015 nên hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết.
Về nợ gốc: Theo thỏa thuận trong hợp đồng, bị đơn vay của nguyên đơn số tiền 300.000.000 đồng, tính đến ngày xét xử, bị đơn không chứng minh được đã trả đủ nợ gốc cho nguyên đơn. Tại khoản 1 Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác”. Vì vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả nợ gốc là số tiền 300.000.000 đồng.
Về nợ lãi: Nguyên đơn không yêu cầu buộc bị đơn trả lãi nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí: Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm do toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11 - Cần Thơ tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật cũng như nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 244, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 385, Điều 463, Điều 465, Điều 466 và Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án; Nghị quyết số: 81/2025/UBTVQH15 ngày 27 tháng 6 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về thành lập Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân khu vực.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả lại tài sản vay.
Buộc bị đơn anh Nguyễn Lâm V có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn anh Nguyễn Quang N tài sản vay là số tiền 300.000.000 (ba trăm triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí:
Bị đơn anh Nguyễn Lâm V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền là 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng).
Trả lại cho nguyên đơn anh Nguyễn Quang N số tiền 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) là tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0009089 ngày 09 tháng 01 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
3. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Đương sự; - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND khu vực 11 - Cần Thơ; - Thi hành án dân sự TP. Cần Thơ; - Lưu hồ sơ vụ án, VP. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Ánh Trúc |