vanban.org

Bản án 227/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Qui Nhơn, tỉnh Bình Định Tuyên án 14/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L, Bùi Gia B đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt: 1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 01/8/2022.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thành L, Bùi Gia B - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L, Bùi Gia B đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUY NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Bản án số: 227/2022/HS-ST
Ngày: 14-12-2022

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Phối và ông Nguyễn Đình Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thế Nữ Diệu Hiền - Thư ký của Toà án nhân dân TP. Quy Nhơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Đặng Thành Thi - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 243/2022/TLST-HS ngày 15/11/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2022/QĐXXST-HS ngày 02/12/2022 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Thành L; giới tính: Nam, sinh ngày 08/3/2000 tại TP. QN, tỉnh Bình Định; Nơi ĐKNKTT: T 32, kv 6, phường HC, TP. QN, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm: 1978 và bà: Trần Thị S, sinh năm 1979; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Ngày 09/11/2020, bị Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 21/3/2021.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: - Ngày 24/9/2019, bị Công an phường Đống Đa, TP. Quy Nhơn ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 21/10/2022 bị khởi tố về tội: “Gây rối trật tự công cộng”

Bị bắt theo lệnh truy nã, tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2022 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Bùi Gia B; giới tính: Nam, sinh ngày 08/10/2001 tại TP. QN, tỉnh Bình Định; Nơi ĐKNKTT: T 62, kv 7, phường QT, TP. QN, tỉnh Bình Định; Chỗ ở hiện nay: 17A, kv 4, phường ĐĐ, TP. QN, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Bùi Văn D, sinh năm: 1969 và bà: Phạm Thị L, sinh năm 1969; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án: Ngày 09/11/2020, bị Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 13/3/2021.

Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 14/9/2018, bị Tòa án nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Chống người thi hành công vụ”, chấp hành xong ngày 22/6/2019.

Ngày 03/11/2022 bị Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định truy tố về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 của Bộ luật hình sự.

Bị bắt tạm giam từ ngày 17/6/2022 trong vụ án khác; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

Anh Trần Văn S, sinh năm: 1966 “vắng mặt”

Trú tại: 31 P N T, P. ĐĐ, TP. QN, Bình Định.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chị Lê Thị H, sinh năm: 1974 “có mặt”

Trú tại: T 48, kv 9 A, phường ĐĐ, TP. QN, Bình Định

- Người làm chứng:

Anh Lê Quang D, sinh năm: 1998 “vắng mặt”.

Trú tại: T 3, kv 1, phường ĐĐ, TP. QN, Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/4/2022, Bùi Gia B đang ở nhà của Lê Quang D tại địa chỉ t 3, kp 1, phường ĐĐ, Tp. QN thì Thái B (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Thành L đến bằng xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu đen – đỏ (xe của Thái B, không rõ biển số). Sau đó L rủ Bùi Gia B, Lê Quang D và Thái B đi đến khu dân cư sông Hà Thanh thuộc phường ĐĐ, Tp. QN tìm nhíp xe ô tô để trộm cắp thì Gia B và Thái B đồng ý, riêng D không đồng ý tham gia. Gia B điều khiển xe mô tô của Thái B chở Thái B và L đi tìm tài sản để trộm cắp. Cả nhóm đi đến công viên trước nhà số 31 PNT thuộc t 47, kp 9, phường ĐĐ, TP. QN thấy có nhiều nhíp xe tải đã qua sử dụng của anh Trần Văn S để trên vỉa hè. Cả nhóm đến cùng khiêng 01 nhíp xe tải đặt trên yên xe mô tô. Gia B điều khiển xe chở Thái B ngồi sau ôm nhíp xe ô tô đến để ở lòng đường trước tiệm tạm hóa HM của chị Lê Thị H, còn L đứng chờ ở công viên. Sau đó, Bùi Gia B và Thái B điều khiển xe mô tô quay lại công viên cùng với L tiếp tục khiêng 01 nhíp xe tải bỏ lên yên xe mô tô để Bùi Gia B điều khiển chở L, Thái B ngồi sau ôm đi đến tiệm tạp hóa của chị H để bán. Cả nhóm nói dối là đi phụ gỡ phụ tùng xe tải, được chủ cho nhíp xe, nên đem bán. Chị H tin tưởng nên đồng ý mua với giá sắt phế liệu 8.000 đồng/kg. Khi cân nhíp xe, vì khối lượng nhíp hơn 100kg nhưng cân của chị H chỉ là loại cân 100kg, nên chị H và nhóm L ước chừng nhíp xe nặng khoảng 115kg và thỏa thuận mỗi nhíp xe chị H mua với giá 900.000 đồng. Chị H mua 02 nhíp với số tiền 1.800.000 đồng, sau khi trừ số tiền 30.000 đồng mua nước và thuốc lá của nhóm L, chị H đưa nhóm L số tiền 1.770.000 đồng. Sau khi nhận tiền, nhóm L về thuê nhà nghỉ ở kv chợ Dinh thuộc phường NB, Tp. QN để ngủ.

Khoảng 01 giờ ngày 11/4/2022, Nguyễn Thành L tiếp tục rủ Gia B, Thái B đi trộm cắp tài sản, Gia B và Thái B đồng ý. Từ nhà nghỉ, Gia B điều khiển xe mô tô của Thái B đến địa điểm lần trước đã trộm cắp nhíp xe tải để tiếp tục lén lút chiếm đoạt tài sản. Giống thủ đoạn lần trước, nhóm L đã lén lút chiếm đoạt 02 nhíp xe ô tô tải của anh Trần Văn S chở đến tiệm tạp hóa của chị H, lần này nhóm L cũng nói với chị H 02 nhíp xe ô tô tải này là do chủ xe cho, nên chị H tin tưởng đồng ý mua. Chị H và nhóm L thỏa thuận mua 02 nhíp xe ô tô tải này với giá 1.800.000 đồng, sau khi trừ 30.000 đồng tiền nước và thuốc lá, chị H đưa cho nhóm L số tiền 1.770.000 đồng. Sau khi nhận được tiền cả nhóm về thuê nhà nghỉ ở kv chợ Dinh thuộc phường NB, Tp QN để ngủ. Số tiền thu được do bán 04 nhíp xe cả nhóm cùng nhau tiêu xài cá nhân hết.

Sau khi phát hiện mất tài sản, anh Trần Văn S trình báo sự việc đến Công an phường ĐĐ. Tại cơ quan điều tra Công an Tp. Quy Nhơn, Nguyễn Thành L và Bùi Gia B khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Ngày 10/6/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Tp. Quy Nhơn kết luận: 01 nhíp xe tải có 16 lá nhíp bằng sắt ghép lại với nhau, dài 165cm, dày 20cm, nặng 154kg, đã qua sử dụng, chất lượng còn lại khoảng 75%, khảo sát giá tại thời điểm là 3.850.000 đồng; 01 nhíp xe tải có 15 lá nhíp bằng sắt ghép lại với nhau, dài 160cm, dày 20cm, nặng 147kg, đã qua sử dụng, chất lượng còn lại khoảng 75%, khảo sát giá tại thời điểm là 3.675.000 đồng; 01 nhíp xe tải có 13 lá nhíp bằng sắt ghép lại với nhau, dài 150cm, dày 24cm, nặng 159kg, đã qua sử dụng, chất lượng còn lại khoảng 75%, khảo sát giá tại thời điểm là 3.975.000 đồng; 01 nhíp xe tải có 13 lá nhíp bằng sắt ghép lại với nhau, dài 150cm, dày 26cm, nặng 170kg, đã qua sử dụng, chất lượng còn lại khoảng 75%, khảo sát giá tại thời điểm là 4.250.000 đồng. Tổng giá trị tài sản là 15.750.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 nhíp xe tải có 16 lá nhíp bằng sắt ghép lại với nhau, dài 165cm, dày 20cm, nặng 154kg, đã qua sử dụng.

- 01 nhíp xe tải có 15 lá nhíp bằng sắt ghép lại với nhau, dài 160cm, dày 20cm, nặng 147kg, đã qua sử dụng.

- 01 nhíp xe tải có 13 lá nhíp bằng sắt ghép lại với nhau, dài 150cm, dày 24cm, nặng 159kg, đã qua sử dụng.

- 01 nhíp xe tải có 13 lá nhíp bằng sắt ghép lại với nhau, dài 150cm, dày 26cm, nặng 170kg, đã qua sử dụng.

- 01 đĩa DVD hiệu Maxell lưu trữ 02 file video.

Ngày 21/7/2022, Cơ quan CSĐT Công an Tp. Quy Nhơn đã ra Quyết định xử lý vật chứng. Trả lại 04 nhíp xe ô tô tải có đặc điểm như trên cho chủ sở hữu là anh Trần Văn S.

Anh Trần Văn S đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Tại phiên tòa, chị Lê Thị H yêu cầu các bị cáo phải hoàn trả số tiền đã mua 04 nhíp xe ô tô tải từ các bị cáo.

- Tại bản cáo trạng số 171/CT-VKSQN ngày 14/11/2022 Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố các bị cáo Nguyễn Thành L, Bùi Gia B về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo Nguyễn Thành L, Bùi Gia B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thành L, Bùi Gia B và đề nghị:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Gia B từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.

Các bị cáo tự bào chữa: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, không bào chữa.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Các bị cáo Nguyễn Thành L, Bùi Gia B là người có đầy đủ sức khỏe, năng lực nhận thức để điều khiển hành vi của mình, đã từng bị Tòa án đưa ra xét xử về tội trộm cắp tài sản nên phải biết tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi xâm phạm đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh, nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng, rèn luyện bản thân để trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội, mà với ý thức tham lam, xem thường pháp luật, cần tiền tiêu xài nhưng chây lười lao động, các bị cáo đã lợi dụng đêm khuya, bị hại sơ hở trong việc quản lý tài sản nên vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 10/4/2022, bị cáo Nguyễn Thành L đã rủ Bùi Gia B và đối tượng Thái B (không rõ lai lịch) đến khu dân cư sông Hà Thanh trộm nhíp xe ô tô tải thì Bùi Gia B và Thái B đồng ý. Khi đến công viên trước nhà 31 PNT, t 47, kv 9, phường ĐĐ, TP. QN thấy có nhiều nhíp xe ô tô tải của anh Trần Văn S đang để trên vỉa hè, các bị cáo và đối tượng Thái B đã lén lút chiếm đoạt 02 nhíp xe ô tô tải có tổng trị giá là 7.525.000 đồng rồi chở đến bán cho chị Lê Thị H với giá 1.770.000 đồng. Đến khoảng 01 giờ ngày 11/4/2022, các bị cáo Nguyễn Thành L, Bùi Gia B cùng đối tượng Thái B tiếp tục đến địa điểm trên lén lút chiếm đoạt của anh Trần Văn S 02 nhíp xe ô tô tải có tổng trị giá là 8.225.000 đồng rồi chở đến bán cho chị Lê Thị H với giá 1.770.000 đồng. Ngày 10/6/2022, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự TP. Quy Nhơn kết luận 04 nhíp xe ô tô tải do các bị cáo Nguyễn Thành L, Bùi Gia B trộm cắp có tổng giá trị tài sản là 15.750.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn truy tố các bị cáo Nguyễn Thành L, Bùi Gia B về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.

Trong vụ án có 02 bị cáo tham gia, nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ giữa các đồng phạm mà cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội nên các bị cáo phạm tội với vai trò giản đơn, bị cáo L là người khởi sướng việc trộm cắp tài sản, sau khi phạm tội còn bỏ trốn, gây khó khăn trong quá trình điều tra, đối với bị cáo B sau khi phạm tội lại tiếp tục có hành vi cướp tài sản của người khác. Do đó, cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi do từng bị cáo gây ra và hình phạt của bị cáo L phải cao hơn bị cáo B.

Hành vi do các bị cáo Nguyễn Thành L, Bùi Gia B gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, trị an ở địa phương nên phải xử phạt nghiêm, cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy rằng:

4.1. Các bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo B đã từng bị Tòa án đưa ra xét xử, bị cáo L từng bị cơ quan hành chính Nhà nước xử phạt.

4.2. Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 02 lần mỗi lần giá trị tài sản chiếm đoạt trên 2.000.000 đồng và đều đã bị kết án, chưa xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội nên đã phạm vào các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” được quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

4.3. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai báo thành khẩn, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự nên Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo một mức án có lý có tình để các bị cáo an tâm cải tạo tốt.

Về bồi thường thiệt hại:

- Bị hại Trần Văn S đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét giải quyết.

- Các bị cáo Nguyễn Thành L, Bùi Gia B cùng đối tượng Thái B trộm cắp 04 nhíp xe ô tô tải của anh Trần Văn S bán cho chị Lê Thị H lấy 3.540.000 đồng, chia nhau tiêu xài cá nhân. Hiện nay đã thu hồi 04 nhíp xe trả lại cho bị hại. Tại phiên tòa, chị H không yêu cầu các bị cáo phải hoàn lại số tiền đã mua 04 nhíp xe ô tô tải từ các bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, hiện còn thu giữ 01 đĩa DVD hiệu Maxell lưu trữ 02 file video do bị hại Trần Văn S nộp. Xét thấy đây là chứng cứ của vụ án nên lưu theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Các bị cáo bị kết án về tội: “Trộm cắp tài sản” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vấn đề khác: Ngoài các bị cáo Nguyễn Thành L và Bùi Gia B, trong vụ án này còn có đối tượng Thái B có hành vi cùng với các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, quá trình điều tra chưa xác định được họ tên và địa chỉ cụ thể của Thái B, nên Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn tách hành vi trộm cắp tài sản của Thái B để tiếp tục điều tra xử lý là phù hợp.

Bị cáo Nguyễn Thành L rủ rê Lê Quang D cùng nhau trộm cắp tài sản nhưng D không tham gia trộm cắp tài sản nên không phạm tội.

Chị Lê Thị H đã có hành vi mua 04 nhíp xe ô tô tải từ các bị cáo và đối tượng Thái B, nhưng chị H không biết đây là tài sản do các bị cáo và Thái B trộm cắp mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an TP. Quy Nhơn không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị H là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự (áp dụng cho cả 02 bị cáo).

Căn cứ các Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 579, 580 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L, Bùi Gia B đều phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 21 (hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 01/8/2022.

2.2. Xử phạt bị cáo Bùi Gia B 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo thi hành án.

3. Án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Thành L, Bùi Gia B mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

Cỡ chữ