- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Tô Phúc Thiện trộm cắp TS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo Phạm Tô Phúc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 227/2022/HS - ST Ngày: 21/12/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lý Thành Danh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Khanh.
2. Bà Trần Thị Long.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phạm Thị Thân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triệu - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 256/2022/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 245/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
Phạm Tô Phúc T; sinh ngày 25/10/1970; tại: Lâm Đồng; giới tính: Nam; địa chỉ thường trú: 53/12 Nguyễn Đình Chính, Phường 15, quận P, TPH; Chổ ở: 134/5N Tổ 126, ấp Tam Đông 2, xã Thới Tam Thôn, huyện M, TPH; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Ngữ và bà Tô Thu Hai; Bị cáo có vợ tên Trần Thị Thanh Thúy và 01 con tên Phạm Tô Thái Bảo. tiền án: Không; tiền sự: Không.
Nhân thân:
Ngày 05/6/1988 bị Công an quận Phú Nhuận lập danh chỉ bản về hành vi “ Trộm cắp tài sản”; Ngày 02/11/1989 bị Công an quận Phú Nhuận đưa đi cưỡng bức lao động 18 tháng; Ngày 13/7/1991 bị Công an quận Phú Nhuận bắt về hành vi “ Trộm cắp tài sản”. UBND quận Phú Nhuận đưa đi cưỡng bức lao động 24 tháng; Ngày 13/7/1993 bị Công an quận Phú Nhuận đưa về cơ sở GD, CBLĐ; Ngày 03/9/2008 bị Công an huyện Hóc Môn xử lý hành chính về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy”; Ngày 23/11/2017 bị Công an huyện Hóc Môn lập danh chỉ bản về hành vi “ Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Bị cáo đang bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 18/6/2022 cho đến nay; bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
Người tham gia tố tụng:
Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Hồng L, sinh năm 1979 (Vắng mặt).
Địa chỉ: 99/3 ấp Tam Đông, xã Thới Tam Thôn, huyện M, TPH.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 03 giờ 28 phút ngày 17/6/2022, Phạm Tô Phúc T đi bộ từ nhà đến tiệm tạp hóa để mua thuốc lá, khi đi đến tiệm tạp hóa địa chỉ 99/3 ấp Tam Đông, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, TP.Hồ Chí Minh do chị Nguyễn Thị Hồng L thấy cửa hàng còn mở nên T vào kêu bán hàng nhưng không ai trả lời nên T liền đi vào trong. Thấy chị L đang nằm ngủ, bên trái có để một túi xách màu xanh nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T tiếp cận lấy túi xách màu xanh cạnh chị L bên trong đựng tiền, vòng, nhẫn vàng và một số giấy tờ cá nhân bỏ đi về nhà. Trên đường đi, T mở túi xách ra kiểm tra thấy bên trong có vàng, tiền và điện thoại di động nên rơi chiếc điện thoại, sợ bị phát hiện nên T không quay lại nhặt. Sau đó, T đi vào bãi đất trống cạnh nhà số 63 ấp Tam Đông, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn đổ túi ra lấy toàn bộ tài sản gồm vàng, tiền, và giấy tờ cá nhân trong túi xách bỏ vào túi quần, đem giấu vào thùng xốp ở bãi đất rồi về nhà lấy tài sản trong túi quần ra có 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng có đính đá màu xanh, 01 chiếc vòng tay dạng kim tiền kim loại màu vàng, 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng đính đá màu đỏ, 01 vòng bằng kim loại màu vàng đính đá màu đỏ, do không biết là thật hay giả nên T đem cất trong thùng gỗ trong nhà, ngoài ra còn có một số tiền khoảng hơn 15 triệu đồng với đủ mệnh giá. T lấy số tiền 5.200.000 đồng (gồm 52 tờ mệnh giá 100 ngàn đồng) cất vào bình đun nước, còn lại hơn 10.400.000 triệu đồng ( có 37 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) T cất vào bóp để tiêu xài. T đã sử dụng 200 ngàn đồng mua đồ ăn còn lại 15.400.000 đồng bị Công an đã thu giữ. Còn một số giấy tờ và thẻ cá nhân, T vứt bỏ vào bãi rác gần nhà (Cơ quan CSĐT không thu hồi được).
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 92//KL - HĐĐGTS ngày 30/6/2022 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Hóc Môn kết luận: 01 vòng tay kim loại vàng 18k đính đá màu đỏ, trọng lượng 4,125 chỉ, trị giá 16.482.336 đồng; một vòng loại vàng 18k, dạng kim tiền, trọng lượng 2,265 chỉ, số tiền 8.857.056 đồng; 01 nhẫn kim loại vàng 18k, trọng lượng 1,65 chỉ có đính đá màu xanh ( đá không giá trị ) số tiền 6.452.160 đồng; 01 nhẫn loại vàng 18k, đính đá màu đỏ, trọng lượng 0,725 chỉ số tiền 2.932.800 đồng, 01 điện thoại di động Samsung A50 giá 2.000.000 đồng và 15.600.000 đồng tiền mặt. Tổng trị giá tài sản và tiền bị cáo lấy trộm là 52.324.352 đồng.
Bị hại Nguyễn Thị Hồng L khai bị mất 01 túi xách chất liệu vải Jean màu xanh, dây đeo bằng vải màu đen, 01 túi vải nhỏ bên trong dựng 01 điện thoại di động Samsung A50, 01 lắc tay bằng kim loại vàng 9999, 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng có đính đá màu xanh, 01 chiếc vòng tay dạng kim tiền kim loại màu vàng, 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng đính đá màu đỏ, 01 vòng bằng kim loại màu vàng đính đá màu đỏ và số tiền khoảng 70.000.000 đồng được cột lại và khoảng hơn 14.000.000 tiền để ngoài. Tổng trị tài sản trên 170.000.000 đồng, và đã cung cấp hóa đơn chứng từ mua, bán 01 lắc tay bằng kim loại vàng 9999, 01 chiếc nhẫn kim loại màu vàng có đính đá màu xanh, 01 chiếc vòng tay dạng kim tiền kim loại màu vàng, 01 nhẫn bằng kim loại màu vàng đính đá màu đỏ, 01 vòng bằng kim loại màu vàng đính đá màu đỏ, trọng lượng 9,84 chỉ, 01 điện thoại di động Samsung A50 không thu giữ được.
Tại Cơ quan CSĐT Phạm Tô Phúc T khai nhận lấy trộm số tài sản trên. Đối với số tiền khoảng 70.000.000 đồng và chiếc lắc tay bằng vàng loại 9999, trọng lượng 9,84 chỉ công an không thu giữ được, T không thấy và không thừa nhận lấy.
Vật chứng vụ án thu giữ:
- 01 túi xách chất liệu vải Jean màu xanh, dây đeo bằng vải màu đen, 01 túi vải nhỏ, 01 vòng tay kim tiền màu vàng; một vòng tay kim loại màu vàng đính đá màu đỏ; 01 nhẫn kim loại màu vàng có đính đá màu xanh; 01 nhẫn kim loại màu vàng có đính đá màu đỏ và số tiền 15.400.000 đồng. Tất cả những tài sản này Cơ quan điều tra đã quyết định trả lại cho bị hại là chị Nguyễn Thị Hồng L.
- 01 điện thoại di động Samsung A72 màu đen, 01 quần lửng màu xanh; 01 áo sơ mi dài tay màu xanh thu của T.
Về dân sự:
- Bị hại nhận lại 01 túi xách chất liệu vải Jean màu xanh, dây đeo bằng vải màu đen, 01 túi vải nhỏ, 01 vòng tay kim tiền màu vàng; một vòng tay kim loại màu vàng đính đá màu đỏ; 01 nhẫn kim loại màu vàng có đính đá màu xanh; 01 nhẫn kim loại màu vàng có đính đá màu đỏ và số tiền 15.400.000 đồng.
- Đối với 01 chiếc lắc tay bằng vàng loại 9999, trọng lượng 9,84 và số tiền còn lại 54.400.000 đồng do bị cáo T không thừa nhận đã lấy trộm nên bị hại không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường.
- Đối với số tiền 200.000 đồng mà bị cáo T đã xài và 01 điện thoại Samsung A50 bị cáo T làm rơi, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 202/CT-VKS-HS/CT-VKS ngày 05/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Tô Phúc T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo điểm c Khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Phạm Tô Phúc T khai nhận hành vi phạm tội đúng như bản cáo trạng đã nêu và xin được giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh sau khi nêu lại nội dung vụ án, phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:
- Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự: đề nghị xử phạt bị cáo Phạm Tô Phúc T 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.
Xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hóc Môn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Phạm Tô Phúc T khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai nhận tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với với bản kết luận điều tra của công an huyện Hóc Môn, với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn và đồng thời phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử nhận thấy đã có đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Ngày 17/6/2022, tại của hàng tạp hóa địa chỉ số 99/3 ấp Tam Đông, xã Thới Tam Thôn, huyện Hóc Môn, TP.Hồ Chí Minh, Phạm Tô Phúc T đã có hành vi lén lút lấy trộm chiếc túi xách bên trong đựng 01 túi vải nhỏ, 01 vòng tay kim loại vàng 18k đính đá màu đỏ, trọng lượng 4,125 chỉ, trị giá 16.482.336 đồng; một vòng loại vàng 18k, dạng kim tiền, trọng lượng 2,265 chỉ, trị giá 8.857.056 đồng; 01 nhẫn kim loại vàng 18k, trọng lượng 1,65 chỉ có đính đá màu xanh (đá không giá trị ) trị giá 6.452.160 đồng; 01 nhẫn loại vàng 18k, đinh đá màu đỏ, trọng lượng 0,725 chỉ trị giá 2.932.800 đồng, 01 điện thoại di động Samsung A50 trị giá 2.000.000 đồng và 15.600.000 đồng tiền mặt. Tổng trị giá tài sản bị cáo lấy trộm là 52.324.352 đồng. Hành vi của bị cáo T đã thỏa mãn dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xét ý kiến của đại diện viện kiểm sát và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo, áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về hình phạt: Khi lượng hình cần xem xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo đã nhiều lần bị bắt về hành vi trộm cắp tài sản, bị đưa đi cưỡng bức lao động; hai lần bị xử lý về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng;
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Phạm Tô Phúc T tại phiên tòa hôm nay cũng như trong quá trình điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên cần xem xét áp dụng quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là hình phạt tù, pháp luật còn quy định hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- 01 quần lửng màu xanh; 01 áo sơ mi dài tay màu xanh thu của bị cáo T là vật liên quan đến tội phạm nên tịch thu, tiêu hủy.
- 01 điện thoại di động Samsung A72 màu đen, là tài sản cá nhân bị cáo không sử dụng vào việc liên lạc để trộm tài sản nên xét trả lại cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã tiêu và không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Tô Phúc T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố:
Bị cáo Phạm Tô Phúc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c Khoản 2 Điều 173; các điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 47; Điều 48 Bộ luật hình sự;
Áp dụng Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
1. Xử phạt bị cáo Phạm Tô Phúc T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2022.
2. Về xử lý vật chứng;
- Trả cho bị cáo Phạm Tô Phúc T 01 điện thoại di động Samsung A72 màu đen.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 quần lửng màu xanh; 01 áo sơ mi dài tay màu xanh.
(Vật chứng của vụ án do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/10/2022).
3. Về án phí:
Buộc bị cáo cáo Phạm Tô Phúc T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND Tp.HCM; - Sở Tư pháp Tp.HCM; - VKSND huyện Hóc Môn; - Cơ quan điều tra công an H. HM; - Chi cục THADS H.HM; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẪM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Thành Danh |