vanban.org

Bản án 226/2026/DSST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025;

dụng; Luật phí, lệ phí; Luật thi hành án dân sự. Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025;
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2026/DSST
Ngày: 28/8/2026
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Bé Bảy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Phạm Thị Thanh Hà

2. Bà Trần Thị Tuyết Loan

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Văn Dần - Cán bộ Tòa án nhân

dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia

phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Khánh – Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ

Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 1773/2026/TLST-DS ngày 20/4/2026, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 352/2026/QĐXXST-DS ngày 13/7/2026, Quyết định hoãn phiên tòa số 249/2026/QĐST-DS ngày 31/7/2026, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam)

Trụ sở: 91 Pasteur, Phường Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lâm Thị Thùy Dương, sinh năm 2000.

Địa chỉ: Phòng số 401, Tầng 4, Tòa nhà số 793/49/1 Trần Xuân Soạn, phường Tân

Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Giấy ủy quyền số 22/2025/GUQ-MAFC ngày 17/4/2025 và Giấy ủy quyền

ngày 01/9/2025)

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Kim Dung, sinh năm 1975.

Địa chỉ: 231/13 Bình Tiên, Phường Bình Tiên, Thành phố Hồ Chí Minh.

(các đương sự vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 31/7/2025, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ

án, nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) có bà Lâm Thị Thùy Dương đại diện trình bày:

Ngày 09/5/2022, Công ty tài chính TNHH một thành viên MIRAE ASSET (Việt

Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty Tài chính Mirae Asset) ký Hợp đồng tín dụng số: 3140920 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Kim Dung với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng (gồm 30.000.000 đồng giải ngân ngày 09/5/2022 qua số tài khoản 0021100013121006 mở tại ngân hàng TMCP Phương Đông và 1.980.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay).

Mức lãi suất trong hạn là 44%/năm (một năm là 365 ngày); Lãi suất quá hạn =

150% x Lãi suất trong hạn% x Số tiền gốc chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn: 365 ngày; Lãi chậm trả = 10% x Số tiền lãi trong hạn chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày; Thời hạn 36 tháng kể từ ngày 10/6/2022 đến ngày 10/5/2025.

Sau khi được giải ngân bị đơn đã thanh toán 29.396.088 đồng (Trong đó: Gốc đã

trả: 10.967.070 đồng; Lãi, phí đã trả: 18.349.191 đồng; Lãi chậm trả đã trả: 79.827 đồng).

Cụ thể:

Lãi

Tổng số tiền

chậm Ngày KH thanh Tổng gốc, lãi

khách hàng

trả đã

Ghi chú

toán

phí đã trả (1)

đã thanh toán

thanh

=(1)+(2)

toán (2)

09/06/2022

1.629.000

0

1.629.000 Kỳ thanh toán thứ 1 (ngày 10/6/2022)

10/07/2022

1.627.466

0

1.627.466 Kỳ thanh toán thứ 2 (ngày 10/7/2022)

10/08/2022

1.628.233

0

1.628.233 Kỳ thanh toán thứ 3 (ngày 10/8/2022)

10/09/2022

1.628.233

0

1.628.233 Kỳ thanh toán thứ 4 (ngày 10/9/2022)

10/10/2022

1.628.000

0

1.628.000 Kỳ thanh toán thứ 5 (ngày 10/10/2022)

08/11/2022

1.629.000

0

1.629.000 Kỳ thanh toán thứ 6 (ngày 10/11/2022)

10/12/2022

1.628.000

0

1.628.000 Kỳ thanh toán thứ 7 (ngày 10/12/2022)

12/01/2023

1.628.000

0

1.628.000 Kỳ thanh toán thứ 8 (ngày 10/01/2023)

14/02/2023

1.628.165

0

1.628.165 Kỳ thanh toán thứ 9 (ngày 10/02/2023)

16/03/2023

1.628.233 4.767 1.633.000 Kỳ thanh toán thứ 10 (ngày 10/3/2023)

Hạch toán vào kỳ thanh toán thứ 11 (ngày

04/05/2023

1.628.233 9.767 1.638.000 10/4/2023)

Hạch toán vào kỳ thanh toán thứ 12 (ngày

01/06/2023

1.629.232 65.293 1.694.525 10/5/2023)

Hạch toán vào kỳ thanh toán thứ 13 (ngày

04/09/2023

1.630.000

0

1.630.000 10/6/2023)

Hạch toán vào kỳ thanh toán thứ 14 (ngày

04/10/2023

1.630.000

0

1.630.000 10/7/2023)

Hạch toán vào kỳ thanh toán thứ 15 (ngày

07/11/2023

1.630.000

0

1.630.000 10/8/2023)

Hạch toán vào kỳ thanh toán thứ 16 (ngày

06/12/2023

1.630.000

0

1.630.000 10/9/2023)

Hạch toán vào kỳ thanh toán thứ 17 (ngày

23/01/2024

1.628.233

0

1.628.233 10/10/2023)

Hạch toán vào kỳ thanh toán thứ 18 (ngày

25/02/2024

1.628.233

0

1.628.233 10/11/2023)

Tổng

29.316.261 79.827 29.396.088

Từ kỳ thanh toán thứ 11 bị đơn liên tục vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, kể

từ ngày 10/12/2023 (kỳ thanh toán thứ 19) công ty bắt đầu tính nợ quá hạn đối với từng kỳ thanh toán mà bị đơn vi phạm.

Công ty Tài chính Mirae Asset đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị bà

Nguyễn Thị Kim Dung thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty Tài chính Mirae Asset cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho bà Nguyễn Thị Kim Dung biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, bà Nguyễn Thị Kim Dung vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty Tài chính Mirae Asset.

Do đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng bà Nguyễn Thị Kim Dung vẫn cố tình

không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD cho phía Công ty. Nên Công ty đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên buộc bà Nguyễn Thị Kim Dung thanh toán cho Công ty tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 28/8/2026 là 57.583.154 đồng. Trong đó: nợ gốc: 21.012.930 đồng; nợ lãi trong hạn: 8.135.233 đồng; tiền lãi quá hạn: 26.633.388 đồng; Tiền lãi chậm trả: 1.801.603 đồng.

Ngoài ra Công ty còn yêu cầu cá nhân bà Nguyễn Thị Kim Dung phải thanh

toán lãi phát sinh kể từ ngày 29/8/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay theo hợp đồng đã ký.

Cách tính lãi trên được căn cứ tại Điều 8.3 Hợp đồng tín dụng, Khoản 2 Điều

91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010 về Lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng, và Khoản 4 Điều 13, Khoản 5 Điều 14 Thông tư 39/2016/TT-NHNN về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.

Đối với bị đơn là bà Nguyễn Thị Kim Dung: Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ

các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập đến tòa để làm Bản tự khai, Thông báo phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà Nguyễn Thị Kim Dung đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án không lấy được lời khai cũng như tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay: Bị đơn Bà Nguyễn Thị Kim Dung vắng mặt. Công ty Tài

chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) có bà Lâm Thị Thùy Dương đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu như đã nêu trên.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm

phán, Hội đồng xét xử đã tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án; nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự; bị đơn chấp hành chưa tốt pháp luật tố tụng khi tham gia tố tụng dân sự;

Về phần nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi

kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, nợ lãi chậm trả cho đến khi hoàn tất việc thanh toán khoản vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký.

Về án phí: Bị đơn Bà Nguyễn Thị Kim Dung phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh

tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Xét đơn khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam)

thì đây là tranh chấp Hợp đồng vay tài sản, do bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Dung cư trú tại Phường Bình Tiên, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2025, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) có

người đại diện theo ủy quyền là bà Lâm Thị Thùy Dương có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Dung đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt tại phiên tòa, nên căn cứ vào điểm a, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

2. Về các yêu cầu của đương sự:

Xét Hợp đồng tín dụng số: 3140920 lập ngày 09/5/2024 giữa Công ty Tài chính

TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) với bà Nguyễn Thị Kim Dung, với các điều khoản chính sau: Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) đã cấp tín dụng cho bà Nguyễn Thị Kim Dung với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng (gồm 30.000.000 đồng giải ngân ngày 08/03/2024 và 1.980.000 đồng tiền bảo hiểm khoản vay; Mức lãi suất trong hạn là 44%/năm (365 ngày); Lãi suất quá hạn = 150% x Lãi suất trong hạn% x Số tiền gốc chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày; Lãi chậm trả = 10% x Số tiền lãi trong hạn chưa trả mỗi kỳ x Số ngày quá hạn : 365 ngày).

Sau khi ký kết, Công ty Tài chính Mirae Asset đã giải ngân theo đúng quy định

trong Hợp đồng tín dụng cho bị đơn. Theo Hợp đồng tín dụng, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 36 tháng kể từ ngày 10/06/2022 đến ngày 10/05/2025.

Sau khi được giải ngân bị đơn đã thanh toán 29.396.088 đồng. Tuy nhiên, từ ngày

10/12/2023 bị đơn đã không thanh toán đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty Tài chính Mirae Asset đã giải ngân. Do từ ngày 10/12/2023, bị đơn không thực hiện nghĩa vụ thanh toán nên Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) đã chuyển số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn và bắt đầu tính nợ quá hạn đối với từng kỳ thanh toán mà bị đơn vi phạm.

Các tình tiết trên đây đã được Tòa án thông báo đến bà Nguyễn Thị Kim Dung

nhưng đương sự không có ý kiến phản hồi nên căn cứ Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định các tình tiết trên là sự thật và không phải chứng minh.

Xét quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng số 3140920 ngày 09/5/2024, bà

Nguyễn Thị Kim Dung có chậm thanh toán kỳ thanh toán thứ 11 (ngày 10/4/2023) và sau đó bà Dung tiếp tục thanh toán đến ngày 25/02/2024 - là kỳ thanh toán thứ 18 (vào ngày 10/11/2023), từ kỳ thanh toán thứ 19 vào ngày 10/12/2023 - bà Nguyễn Thị Kim Dung đã không thực hiện đóng tiền lãi, phí và trả nợ gốc đúng hạn cho nguyên đơn là vi phạm thỏa thuận mà hai bên đã ký kết theo Điều 463 của Bộ luật dân sự và Luật các tổ chức tín dụng. Do đó, bà Nguyễn Thị Kim Dung phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc, tiền lãi và phí phát sinh tính từ ngày 10/12/2023 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm cho Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) tính đến ngày 28/8/2026 là 57.583.154 đồng. Trong đó: nợ gốc: 21.012.930 đồng; nợ lãi trong hạn: 8.135.233 đồng; tiền lãi quá hạn: 26.633.388 đồng; Tiền lãi chậm trả: 1.801.603 đồng; ngoài ra Công ty còn yêu cầu cá nhân bà Nguyễn Thị Kim Dung phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 29/8/2026 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản vay theo hợp đồng đã ký cho nguyên đơn theo mức lãi suất nợ quá hạn mà hai bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng nêu trên.

3. Căn cứ án lệ số 08/2016/AL về xác định lãi suất, việc điều chỉnh lãi suất trong

hợp đồng tín dụng kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm và Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm:

Đối với các khoản tiền vay của Tổ chức ngân hàng, tín dụng, ngoài khoản tiền

nợ gốc, lãi trong hạn, lãi vay quá hạn, phí mà khách hàng vay phải thanh toán cho bên cho vay theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày xét xử sơ thẩm, thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán xong khoản nợ gốc này. Nên bà Nguyễn Thị Kim Dung còn phải tiếp tục chịu lãi suất quá hạn trên phần nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của công ty cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của công ty cho vay.

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt

Nam) không phải chịu án phí; bị đơn bà Nguyễn Thị Kim Dung phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

Khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, điểm a

điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín

dụng; Luật phí, lệ phí; Luật thi hành án dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban

Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa

án nhân dân Tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Án lệ số 08/2016/AL của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Tài chính TNHH

MTV Mirae Asset (Việt Nam)

Buộc bà Nguyễn Thị Kim Dung phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty Tài

chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) số tiền nợ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng lập ngày 09/5/2022 giữa Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) và bà Nguyễn Thị Kim Dung tính đến ngày 28/8/2026 tính đến ngày 28/8/2026 là 57.583.154 đồng. Trong đó: nợ gốc: 21.012.930 đồng; nợ lãi trong hạn: 8.135.233 đồng; tiền lãi quá hạn: 26.633.388 đồng; Tiền lãi chậm trả: 1.801.603 đồng và số tiền lãi quá hạn được tính tiếp cho bà Nguyễn Thị Kim Dung từ ngày 29/8/2026 cho đến khi trả hết nợ cho Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) theo mức lãi suất nợ quá hạn mà hai bên đã thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng.

Thời hạn thanh toán: Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền

2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp

tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Công ty cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Công ty cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Công ty cho vay theo mức lãi suất mà hai bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.

3. Về án phí: án phí dân sự sơ thẩm là 2.879.158 đồng, Bà Nguyễn Thị Kim Dung

phải chịu. Nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền

Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) không phải chịu án phí.

Hoàn trả cho Công ty Tài chính TNHH MTV Mirae Asset (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 780.210 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/26E số 0024934 ngày 20/4/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo

bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 34, Điều 36 và Điều 71 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 34 của Luật Thi hành án dân sự năm 2025.

Cỡ chữ