- Tranh chấp gì? án hình sự — "vũ xuân h - phạm tội không tố giác tội phạm (điều 390 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; Điều 2 Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!! CẤP!CAO!TẠI!HÀ!NỘI! ! | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 226/2023/HS-PT Ngày 11/4/2023 |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!CẤP!CAO!TẠI!HÀ!NỘI!
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Huyền Cường
Bà Đặng Thị Thơm
- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thanh Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Vũ Văn Biểu, Kiểm sát viên cao cấp;
Ngày 11/4/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm C khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 1120/2022/TLPT-HS ngày 20/12/2022 do có kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 88/2022/HS-ST ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
- Bị cáo có kháng cáo: Vũ Xuân H. sinh năm: 1996; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; HKTT: thôn P, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: 036096006*** cấp ngày 27/9/2019; con ông Vũ Văn N, sinh năm 1971; con bà Vũ Thị D, sinh năm 1976; Đều trú tại thôn P, xã Đ, huyện V; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là con thứ nhất; có vợ là Vũ Thị B, sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 02/6/2022; ngày 07/7/2022, áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”.
Ngoài ra trong vụ án còn 02 bị cáo và bị hại không kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong năm 2020, anh Vũ Quốc T, sinh năm 1981, trú tại: xóm C, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định thông qua ông Nguyễn Đình M, sinh năm 1960 ở xóm C, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định nhiều lần vay tiền của Nguyễn Đình C, sinh năm 1988 ở số 42, Đ, phường T, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định (là con trai ông M) với tổng số tiền 1.470.000.000 đồng nhưng đến nay chưa trả.
Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 19/01/2022, Nguyễn Đình C bảo Vũ Xuân H, sinh năm 1996, trú tại: xóm V, xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định điều khiển xe ô tô của C nhãn hiệu Cerato màu đỏ nói chở C đi có việc. C ngồi ở ghế phụ chỉ đường cho Hà lái xe. Khi đến nhà anh T, C bảo Hà dừng xe, C xuống xe, đi đến đứng trước cổng nhà anh T đang đóng. C gọi: “Anh T ơi”. Lúc này, Đàm TA, sinh năm 1984, trú tại: ĐT, xã L, huyện V, tỉnh Nam Định và Trần Công H1, sinh năm 1990, trú tại: ĐT, xã L, huyện V, tỉnh Nam Định (là người quen của C) mỗi người đi 01 xe máy cũng đến trước nhà anh Vũ Quốc T. Một lúc sau, chị Vũ Thị T1, sinh năm 1988 (là vợ anh T) ra mở cổng, C đi theo sau chị T1 vào trong phòng khách tầng một. Chị T1 ngồi ở ghế trường kỷ giáp ban thờ, C ngồi ghế trường kỷ đối diện chị T1, cách nhau 01 bàn trường kỷ. Hà và TA đi sau theo C. H đứng ngoài cửa, tay cầm điện thoại để nhắn tin cho bạn và cầm điện thoại trước ngực để quay video. TA đi vào trong phòng khách, đứng sau C. C nói: “Chị biết em là thằng nào không. Anh T có điện cho em. Còn em bảo một câu thế này này. Em bây giờ địt biết thằng nào hết. Nợ tiền của ông già tôi ấy”. Chị T1 nói: “Ông ấy nợ nhiều không”. C nói: “Tôi không biết”. Chị T1 nói: “Vậy làm sao tớ biết được”. TA nói: “Chị ơi, nợ khoảng một tỷ”. Chị T1 nói: “Em chả biết đâu, giờ anh nói em mới biết. Có gì tớ dặn ông ấy cho”. C nói: “Tôi nói vậy thôi, tôi bảo bạn nghe câu này. Tôi vào đây rồi ấy, nó không phải đơn giản đâu”. Chị T1 nói: “Thôi, giờ ông ấy để xảy ra như vậy ấy”. C nói: “Tôi cũng rất thương ông ấy”. TA nói: “Giữa việc nợ và khất nợ nó khác nhau. Bạn gọi điện đi, cho nói chuyện với ông M đi”. C gọi điện nói: “Con đang ngồi nhà TC này. Bố nói chuyện với con vợ nó này. Vợ TC ấy, thế giờ ý chúng nó thế nào. Bố bảo con tiếng, riêng con xác định thế này này bố này, con là con bố, con chỉ biết thế này này, đứa nào nợ tiền là phải trả thế thôi. Con chỉ biết thế này này, con là con của bố, chúng nó thích thế nào ấy thì địt mẹ chúng nó luôn, con đập nát nhà chúng nó luôn. Bố nói chuyện với vợ T”. C đưa điện thoại cho chị T1 để nói chuyện với ông M. Chị T1 nói: “Tôi không nợ, tôi không nghe”. C chửi T1: “Địt mẹ mày nữa, tao hỏi mày có nói chuyện không. Địt mẹ mày nữa”. Lập tức, C đứng dậy dùng tay tát nhiều phát vào mặt chị T1. TA đứng đằng sau C, cầm một vật ném về phía chị T1 nhưng không trúng, vật này rơi xuống bàn thờ. C đi sang phía chị T1 ngồi, dùng tay phải tát liên tiếp nhiều phát vào mặt chị T1. Chị T1 đứng lên, C dùng tay phải túm tóc chị T1, ghì mặt xuống ghế trường kỷ, dùng chân phải đạp nhiều phát vào mặt chị T1. C vừa đánh, vừa chửi “Địt mẹ mày”. TA đi ra phía ban thờ cầm 01 ghế thờ bằng gỗ, cao khoảng 1m50 ném ghế về phía chị T1, ghế thờ đập vào thành ghế trường kỷ. Khi bị C và TA đánh, chị T1 liên tục khóc và van xin: “Tớ làm gì cậu mà cậu đánh tớ”. TA chửi: “Địt mẹ mày thích to mồm nữa không, địt mẹ chúng mày luôn, địt mẹ chúng mày vay tiền nhởn nhơ với xã hội à”. TA đi đến dùng tay vả nhiều phát vào mặt chị T1 rồi đi ra ngoài sân. Sau đó TA quay lại lấy 01 hộp nhựa màu trắng đựng giấy ăn ở khu vực bàn ghế trường kỷ ném về phía chị T1. Khi C, TA bắt đầu to tiếng chửi bới, dùng tay chân đánh chị T1 thì Huynh đi từ ngoài cổng vào trong phòng khách can ngăn C không đánh chị T1 nữa. Sau đó, Huynh ôm lấy C thì chị T1 đứng dậy bỏ chạy về phía cầu thang lên tầng 2. C đuổi theo, Huynh ôm lấy C nhưng không giữ C lại được. C tiếp tục dùng tay túm tóc chị T1, dùng tay chân tát, đạp nhiều phát vào người, mặt chị T1. Khi C đánh chị T1, Huynh nói: “Anh cứ đi về, bao giờ rồi lấy, đây là chuyện của gia đình người ta”. TA chửi: “Bao giờ trả tiền, bao giờ trả tiền, bao giờ trả tiền. Địt mẹ mày luôn ấy. Bao giờ trả tiền”. C chửi: “Địt mẹ chúng mày đùa với tao á, bố mày chấp cả nhà chúng mày luôn. Cho nó điện đi. Địt mẹ chúng nó nữa”. Huynh can ngăn đẩy C từ phía chân cầu thang ra phía bộ bàn ghế trường kỷ. Chị T1 bỏ chạy lên tầng hai. C ở dưới tầng một chửi: “Địt mẹ mày nữa, còn nhé, bảo này, cứ ngồi đây này, địt mẹ chúng mày chờ TC nó gọi cho Công an, gọi xuống ấy, địt mẹ chúng mày nữa. Mày thích chơi kiểu gì bố mày chơi kiểu đấy luôn. Địt mẹ mày nữa” “Mày gọi tất cả người nhà mày ra đây, địt mẹ mày hôm nay tao giết nhà mày luôn, địt mẹ chúng mày nợ tiền tao không trả á. Mày nhầm rồi, địt mẹ chúng mày nữa, Mày chưa biết bố mày là ai rồi đúng không”. Một lúc sau, Công an xã T đến thì nhóm người của C bỏ chạy. H điều khiển xe ô tô của C chở C về quán quần áo của H tại xã T, Hà xuống xe và ngủ lại quán. C lái xe đi. H1 và TA đi xe máy về nhà. Công an xã T đã tiến hành lập Biên bản ghi nhận dấu vết, chụp ảnh hiện trường, thương tích của chị T1 và trích xuất camera tại nhà chị T1 ở thời điểm xảy ra sự việc lưu lại vào 01 USB nhãn hiệu Kingston.
Tại cơ quan điều tra Vũ Xuân H khai nhận chứng kiến toàn bộ sự việc C và TA đánh đập, yêu cầu chị T1 trả nợ, nhưng khi Công an xã đến thì H đã bỏ đi cùng với C, không ở lại khai báo. Sau đó cũng không đến Cơ quan có thẩm quyền khai báo, mặc dù không bị ai ép buộc, đe dọa. Ngày 23/01/2022, khi bị Công an triệu tập thì H mới đến khai báo; H thừa nhận có quay lại cảnh C và TA đánh chị T1 nhưng nói quay là để làm bằng chứng H ngoại phạm, và khai điện thoại H sử dụng đã bị mất ngay sau sự việc xảy ra.
Tại bản Cáo trạng số 74/CTr-VKS-P3 ngày 13/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định truy tố bị can Đàm TA về tội: “Cướp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 168 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Các bị can Vũ Xuân H, Trần Công H1 về tội “Không tố giác tội phạm” quy định tại khoản 1 Điều 390 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2022/HS-ST ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định đã quyết định:
1. Tuyên bố bị cáo Đàm TA phạm tội “ Cướp tài sản”; Các bị cáo Vũ Xuân H, Trần Công H1 phạm tội “ Không tố giác tội phạm”
…
3. Áp dụng khoản 1 Điều 390, điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS; Xử phạt Vũ Xuân H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Bị cáo Vũ Xuân H được trừ đi thời gian bị tạm giam từ ngày 02/6/2022 đến ngày 07/7/2022.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về bồi thường thiệt hại, về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 28/10/2022, bị cáo Vũ Xuân H có đơn kháng cáo cho rằng khi bị cáo Anh đánh chị T1, bị cáo có can ngăn và chị T1 đã làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nhưng không được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn, bố mẹ thường xuyên đau yếu, vợ đang mang thai, 2 em còn đang đi học, bản thân đã nhận thức được hành vi phạm tội nên xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và bị cáo đã tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về thủ tục tố tụng. Đơn kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân H nộp trong thời hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận giải quyết yêu cầu kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ lời khai các bị cáo tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Xuân H phạm tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo H phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; trong thời gian được tại ngoại, bị cáo H đã có thành tích giúp cơ quan điều tra khám phá, triệt phá một điểm mua bán trái phép chất ma túy nên được Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam định có Công văn số 180/PC04 ngày 05/4/2023 báo cáo và đề nghị Tòa án xem xét trong quá trình xét xử phúc thẩm. Như vậy, bị cáo H không có tình tiết tăng nặng, có các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự nên có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo; do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật hình sự sửa án sơ thẩm, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo H.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên giữ nguyên.
NHẬN ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Ngày 28/10/2022, bị cáo Vũ Xuân H có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm là trong thời hạn luật định nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét, giải quyết yêu cầu kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo Vũ Xuân H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã kết luận, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận: Khoảng 21 giờ 20 phút ngày 19/01/2022, tại nhà chị Vũ Thị T1, sinh năm 1988 ở xóm C, xã T, huyện V, tỉnh Nam Định; Đàm TA cùng với Nguyễn Đình C có hành vi đánh đập, chửi bới chị T1 nhằm yêu cầu chị T1 và gia đình có trách nhiệm cùng chồng chị T1 là anh Vũ Quốc T trả cho C số tiền anh T đã vay của C. Bị cáo Vũ Xuân H là người đưa bị cáo C đến nhà chị T1, chứng kiến toàn bộ sự việc bị cáo Nguyễn Đình C và và bị cáo Đàm TA đánh đập, yêu cầu chị Vũ Thị T1 trả nợ nhưng vì cả nể nên khi Công an xã đến thì bị cáo Vũ Xuân H đã bỏ đi cùng với bị cáo C, không ở lại khai báo; sau đó cũng không đến Cơ quan có thẩm quyền khai báo mặc dù không bị ai ép buộc, đe dọa. Chỉ đến ngày 23/01/2022, khi cơ quan Công an triệu tập thì bị cáo mới đến trình diện và khai báo sự việc. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo H về tội “Không tố giác tội phạm” theo quy định tại khoản 1 Điều 390 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, không oan.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Vũ Xuân H thì thấy:
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định bị cáo H không có tình tiết tăng nặng; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 390 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Không tố giác tội phạm” là có căn cứ;
Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật; Phòng cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Nam Định có Công văn số 180/PC04 ngày 05/4/2023, báo cáo về việc trong thời gian được tại ngoại, bị cáo H đã có thành tích giúp cơ quan điều tra khám phá, triệt phá một điểm mua bán trái phép chất ma túy và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét trong quá trình xét xử phúc thẩm. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới của bị cáo được quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; thể hiện bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm, có khả năng tự sửa chữa. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, không tiền án, tiền sự; bị cáo bị xử phạt tù dưới 3 năm và có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có đơn kháng cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn xin được giảm nhẹ hình phạt, có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo có 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy bị cáo có đủ các điều kiện quy định tại Điều 2 Nghị quyết số số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, việc buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù là không cần thiết, nên giữ nguyên mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên mức hình phạt tù Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng cho bị cáo được hưởng án treo.
Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:!
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự;
Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
1. Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Vũ Xuân H; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 88/2022/HS-ST ngày 28/10/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.
Áp dụng khoản 1 Điều 390; điểm i, s, t khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 2 Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Xử phạt bị cáo Vũ Xuân H 01 (một) năm 03 (Ba) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Vũ Xuân H cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện V, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
3. Về án phí: Bị cáo Vũ Xuân H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - Vụ GĐKT I TAND tối cao; - TAND tỉnh Nam Định; - VKS ND tỉnh Nam Định; - Công an tỉnh Nam Định; - Cục THADS tỉnh Nam Định; - Bị cáo H (theo địa chỉ); - Trung tâm LLTP quốc gia Bộ Tư pháp; - Lưu HSVA. | TM.!HỘI ĐỒNG!XÉT!XỬ! THẨM!PHÁN!-!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! (ĐÃ KÝ)! ! ! Nguyễn!Phan!Nam |