vanban.org

Bản án 226/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị ThA L.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn với ông Huỳnh Lê A. Về con chung: Giao 02 cháu Huỳnh Nguyễn A, sinh ngày 05/7/2006 và Huỳnh Nguyễn Nhật A, sinh ngày 22/9/2012 cho ông Huỳnh Lê A trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị Thanh L cấp dưỡng nuôi con số ti… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Loan Anh"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị ThA L.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI
Bản án số: 226/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 12-7-2023.
Về việc: “Ly hôn”.

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh;

2. Bà Thiều Thị Phi L.

-Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến -Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 173/2023/TLST-HNGĐ, ngày 06/02/2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/5/2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 246/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14/6/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh L, sinh năm 1987.

Địa chỉ: 62/16B, tổ 8, khu phố M, phường QV, thành phố H, tỉnh Đồng Nai. Xin vắng mặt.

Bị đơn: Ông Huỳnh Lê A, sinh năm 1984.

Địa chỉ: 62/16B, tổ 8, khu phố M, phường QV, thành phố H, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh L trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Huỳnh Lê A tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hòa Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Vợ chồng chung sống hạnh phúc thời gian đầu, nhưng về sau thường xuyên bất đồng quan điểm, mặc dù đã nhiều lần hòa giải nhưng không giải quyết được, vợ chồng đã sống ly thân, không còn tình cảm với ông A nên bà xin được ly hôn.

- Về con chung: Có 02 con chung là cháu Huỳnh Nguyễn A, sinh ngày 05/7/2006 và Huỳnh Nguyễn Nhật A, sinh ngày 22/9/2012. Ly hôn bà giao 02 con cho ông A nuôi dưỡng, bà tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 2.000.000 đồng/tháng.

- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án gồm có: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng bị đơn ông Huỳnh Lê A đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến và không tiến hành hòa giải giữa các bên đương sự được. Tại phiên tòa hôm nay, ông A vẫn vắng mặt.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L. Về con chung: Đề nghị giao 02 cháu Huỳnh Nguyễn A, sinh ngày 05/7/2006 và Huỳnh Nguyễn Nhật A, sinh ngày 22/9/2012 cho ông A nuôi, bà L cấp dưỡng nuôi con số tiền 4.000.000 đồng/02 con/01 tháng. Về tài sản chung, nợ chung: Do hiện nay chưa có lời khai của ông A nên không có cơ sở xem xét, giải quyết trong vụ án này. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật. Về án phí bà L phải chịu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị Thanh L khởi kiện tranh chấp ly hôn, bị đơn ông Huỳnh Lê A có địa chỉ cư trú tại số 62/16B, tổ 8, khu phố M, phường QV, thành phố H, tỉnh Đồng Nai, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn là ông Huỳnh Lê A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Bà Nguyễn Thị Thanh L và ông Huỳnh Lê A tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2005, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hòa Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 60/2005, ngày 27/9/2005. Căn cứ Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 thì hôn nhân giữa bà L, ông A xác định là hôn nhân hợp pháp. Tòa án căn cứ vào các quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành để giải quyết việc bà L xin ly hôn với ông A.

Theo bà L thì vợ chồng bà chung sống hạnh phúc thời gian đầu, nhưng về sau thường xuyên bất đồng quan điểm, mặc dù đã nhiều lần hòa giải nhưng không giải quyết được, vợ chồng đã sống ly thân.

Theo kết quả xác minh tại địa phương thì bà L và ông A không còn chung sống với nhau. Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông A đến Tòa án để tham gia hòa giải, nhưng ông A vắng mặt, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và tại phiên tòa hôm nay ông A vẫn vắng mặt, cho thấy ông A không còn tha thiết với việc hàn gắn đoàn tụ. Từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân vợ chồng giữa bà L và ông A lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà L, cho bà L được ly hôn với ông A.

Về con chung:

Giữa bà L và ông A có 02 con chung là cháu là cháu Huỳnh Nguyễn A, sinh ngày 05/7/2006 và Huỳnh Nguyễn Nhật A, sinh ngày 22/9/2012. Ly hôn bà L có ý kiến giao 02 con cho ông A nuôi, bà L cấp dưỡng nuôi con số tiền 4.000.000 đồng/02 con/01 tháng. Tòa án cũng đã yêu cầu bà L dẫn các con đến Tòa án để có lời khai, nhưng bà L không thực hiện được. Tòa án kết hợp với chính quyền địa phương xuống lấy lời khai của các con chung về nguyện vọng xin ở với ai khi Tòa án giải quyết ly hôn, nhưng không lấy ý kiến của các cháu được. Tuy nhiên, theo kết quả xác minh tại địa phương thì hiện nay các con đang ở với ông A, bà L và ông A đang làm công việc buôn bán. Như vậy, thực tế các con chung đang ở với ông A, do đó, cần giao 02 con chung cho ông A trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà L cấp dưỡng nuôi con số tiền 4.000.000 đồng/02 con/01 tháng.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà L xác định tài sản chung tự thỏa thuận, về nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết. Tuy nhiên, do ông A vắng mặt, không có lời khai nên không đặt ra xem xét, giải quyết trong vụ án này. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là 300.000 đồng và án phí cấp dương là 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa về đường lối giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 9, Điều 11, Điều 12 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 131 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị ThA L.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh L được ly hôn với ông Huỳnh Lê A.

2. Về con chung: Giao 02 cháu Huỳnh Nguyễn A, sinh ngày 05/7/2006 và Huỳnh Nguyễn Nhật A, sinh ngày 22/9/2012 cho ông Huỳnh Lê A trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Thị Thanh L cấp dưỡng nuôi con số tiền 4.000.000 (bốn triệu) đồng/02 con/01 tháng (mỗi con 2.000.000 (hai triệu) đồng /01 tháng) kể từ ngày Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, nếu bên cấp dưỡng không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi đối với số tiền chậm cấp dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương đương với thời gian chậm cấp dưỡng.

Nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt theo quy định tại Điều 118 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không đặt ra xem xét, giải quyết. Các đương sự có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác theo quy định của pháp luật.

4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, theo biên lai thu số 0006060, ngày 02/02/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Biên Hòa. Bà L còn phải nộp số tiền 300.000 (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí cấp dưỡng .

5.Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thanh L, ông Huỳnh Lê A được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ