vanban.org

Bản án 226/2022/HSST — Hình sự

TAND Q. Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội Tuyên án 26/10/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo ĐNT phạm tội “Trộm cắp tài sản ” và phạm tội “ Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”

Xử phạt bị cáo ĐNT: 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Xử phạt bị cáo ĐNT: 09 (Chín) tháng tù về tội “ Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "lợi dụng công nghệ thông tin chiếm đoạt tài sản - phạm tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chi…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo ĐNT phạm tội “Trộm cắp tài sản ” và phạm tội “ Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN BẮC TỪ LIÊM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2022/HSST
Ngày 26 tháng 10 năm 2022

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Thế Vinh;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Thanh Hương và bà Nguyễn Thu Hường.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Trần Quốc Trung, Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thủy, Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 10 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 227/2022/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2022/HSTT ngày 12/10/2022, đối với bị cáo:

Họ và tên: ĐNT, sinh năm 1991; Giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú: Cụm 1, thôn T, xã CT, huyện UH. TP. Hà Nội. Chỗ ở: không xác định; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Con ông: ĐNL- SN 1968 (Đã chết); Con bà: MTT - SN 1970. Vợ là DTM - SN 1993 ( đã ly hôn), bị cáo có 01 con là ĐLC sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không.

Danh chỉ bản số 0000324 lập ngày 04/8/2022 tại Công an quận Bắc Từ Liêm, TP. Hà Nội.

Bị cáo bị bắt truy nã ngày 03/8/2022. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công an thành phố Hà Nội. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Anh VVT, sinh năm: 2001; Nơi đăng ký thường trú: Tổ 9, Thị trấn A, huyện Q, tỉnh T.

2. Anh DDP, sinh năm: 2001; Nơi đăng ký thường trú: Tổ 6, Thị trấn A, huyện Q, tỉnh T.

(Cùng vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 27/1/2022, anh VVT và anh DDP (cùng sinh năm 2001 và cùng đăng ký hộ khẩu thường trú tại Thị trấn A, huyện Q, tỉnh T) đến Công an phường Cổ Nhuế 2 trình báo về việc ngày 22/1/2022, anh T bị ĐNT trộm cắp 01 điện thoại Iphone XS màu vàng và AP bị ĐNT trộm cắp 01 điện thoại Xiaomi 9T Pro màu trắng xanh cùng với 3.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng của anh tại phòng trọ của 2 anh ở số 31 ngách 57/347 đường Cổ Nhuế, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội.

Quá trình điều tra xác định:

Anh VVT, anh DDP và ĐNT cùng làm thợ sơn cho anh ĐT (Sinh năm 1991; địa chỉ thường trú: Tổ 9, Thị trấn A, huyện Q, tỉnh T). Tối ngày 21/1/2022, anh Th, anh T, AP và Tùng đi uống rượu cùng nhau. Sau đó anh Th về phòng trọ của bạn gái còn anh T, AP và Tùng đi về phòng trọ ở số 31 ngách 57/347 đường Cổ Nhuế, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm để ngủ. Trước khi ngủ, Tùng mượn điện thoại của AP để chơi trò chơi “tài xỉu” trên mạng Internet và vay AP 1.600.000 đồng bằng hình thức nhờ AP chuyển tiền vào số tài khoản 2222202051993 mang tên Trần Thanh Hải tại ngân hàng quân đội (MB) để nạp thẻ chơi trò chơi. AP đã sử dụng điện thoại Xiaomi chuyển 1.600.000 đồng từ số tài khoản 811220019999 của anh tại ngân hàng MB vào số tài khoản 2222202051993 mang tên Trần Thanh Hải tại ngân hàng MB. Sau đó, Tùng mượn điện thoại của AP để chơi “tài xỉu”, chơi được một lúc thì thua hết tiền nên Tùng trả lại điện thoại cho AP. AP và anh T đi ngủ; anh T để 01 điện thoại Iphone XS màu vàng (đang cắm sạc) và AP để 01 điện thoại Xiaomi màu trắng xanh ở trên giường. Đến khoảng 2h ngày 22/01/2022, lợi dụng AP và anh T đang ngủ say, Tùng lấy điện thoại của AP để truy cập vào tài khoản ngân hàng của AP để chiếm đoạt tiền của AP vì trước đó, Tùng đã biết mật khẩu điện thoại của AP. Sau khi mở được điện thoại, do không biết mật khẩu tài khoản ngân hàng của AP nên Tùng đã vào tài khoản ngân hàng MB của AP rồi ấn vào mục quên mật khẩu trong ứng dụng để lấy mật khẩu mới và đăng nhập vào tài khoản ngân hàng của AP rồi chuyển 3.000.000 đồng từ tài khoản của AP đến số tài khoản 2222202051993 mang tên Trần Thanh Hải tại ngân hàng MB để nạp thẻ (tài khoản này gắn ở trên game tài xỉu) chuyển đổi thành tiền chơi “tài xỉu”. Sau khi chơi thua hết tiền, Tùng đã xóa hết dữ liệu và hình ảnh trò chơi Tùng đã chơi trên điện thoại của AP. Sau đó, Tùng nảy ý định trộm cắp 02 điện thoại trên để bán lấy tiền tiêu sài. Khoảng 5h ngày 22/01/2022, lợi dụng lúc AP và anh T ngủ, Tùng trộm cắp 02 chiếc điện thoại trên và mang đến bán cho anh Đặng Quốc Chiến, sinh năm 1973 tại cửa hàng điện thoại số 34 đường Xuân La, phường Xuân La, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội 01 điện thoại Xiaomi được 1.450.000 đồng; sau đó anh Chiến đã bán cho 1 người không xác định nhân thân lai lịch được 1.650.000 đồng - hiện tang vật không thu hồi được; còn 01 điện thoại Iphone XS Tùng bán cho anh Nguyễn Văn Nam, sinh năm 1989 tại cửa hàng điện thoại 336 đường Xuân Đỉnh, phường Xuân Đỉnh, quận Bắc Từ Liêm được 2.500.000 đồng; anh Nam đã bán lại cho 01 khách không xác định nhân thân lai lịch được 2.600.000 đồng - hiện tang vật không thu hồi được. Số tiền bán 2 điện thoại Tùng đã tiêu sài cá nhân hết. Đến ngày 27/01/2022, AP, anh Th và anh T đi uống nước gần khu vực Bệnh viện E thì nhìn thấy Tùng đang đứng ở điểm đỗ xe bus nên cả 3 đến khống chế Tùng và trình báo Công an phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Ngày 11/2/2022, cơ quan điều tra đã có Yêu cầu định giá số 44 đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Bắc Từ Liêm định giá đối với 02 chiếc điện thoại Tùng đã trộm cắp.

Kết luận định giá tài sản số 98 ngày 9/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS quận Bắc Từ Liêm kết luận:

-01 điện thoại Xiaomi 9T Pro (đã qua sử dụng) trị giá 3.000.000 đồng;

-01 điện thoại Iphone XS màu vàng 256G (đã qua sử dụng) trị giá 8.000.000 đồng.

Cơ quan điều tra đã thu thập được các sao kê tại Ngân hàng quân đội liên quan đến số tài khoản mang tên AP số 811220019999 và số tài khoản 2222202051993 mang tên Trần Thanh Hải. Theo kết quả sao kê do ngân hàng MB cung cấp thể hiện ngày 22/01/2022, có giao dịch chuyển tiền 3.000.000 đồng từ số tài khoản mang tên anh DDP sang số tài khoản mang tên Trần Thanh Hải như trên.

Xác minh tại chính quyền địa phương nơi Trần Thanh Hải cư trú, Công an phường Cẩm Phú, TP Cẩm Phả, Quảng Ninh cung cấp: Trần Thanh Hải không có mặt tại địa phương, hiện không biết Hải đi đâu, làm gì.

Tại cơ quan điều tra ĐNT khai nhận hành vi như trên và khai Tùng đã sử dụng điện thoại của AP vào tài khoản ngân hàng của AP rồi chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng trong tài khoản của AP chuyển sang số tài khoản mang tên Trần Thanh Hải để chơi trò chơi đánh bạc “tài xỉu” trên mạng Internet. Tùng không biết nhân thân lai lịch Trần Thanh Hải, sau khi chơi xong Tùng đã xóa hết dữ liệu liên quan đến trò chơi “tài xỉu”.

Quá trình điều tra ngoài lời khai của Tùng, không có tài liệu chứng cứ nào khác thể hiện Tùng đánh bạc “tài xỉu” trên mạng Internet nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý ĐNT về hành vi đánh bạc.

Người bị hại anh VVT, anh DDP trình báo bị mất điện thoại và mất 3.000.000 đồng trong tài khoản của mình như trên. Về trách nhiệm dân sự: Anh T yêu cầu bồi thường 8.000.000 đồng, AP yêu cầu bồi thường 6.000.000 đồng.

Anh Đặng Quốc Chiến và anh Nguyễn Văn Nam khai khi mua điện thoại của ĐNT, các anh không biết là điện thoại do Tùng phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.

Tại Bản cáo trạng số 226/CT-VKSBTL ngày 05/10/2022, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm quyết định truy tố bị can ĐNT về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 và điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã truy tố và nhất trí bồi thường thiệt hại theo đúng yêu cầu cầu những người bị hại sau khi chấp hành xong hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội sau khi tóm tắt nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa, khẳng định bản cáo trạng truy tố bị cáo ĐNT về tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 và điểm a khoản 1 Điều 290 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội đúng pháp luật. Sau khi xem xét, đánh giá toàn diện vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 290, Điểm s khoản 1,2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự Xử phạt bị cáo ĐNT: Từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; mức án từ 09 đến 12 tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo ĐNT phải chấp hành hình phạt chung cho hai tội từ: 21 đến 27 tháng tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

- Về trách nhiệm dân sự: Cần buộc bị cáo phải bồi thường giá trị tài sản chiếm đoạt của các bị hại. Cụ thể là phải bồi thường cho anh VVT số tiền 8.000.000 đồng và anh DDP số tiền 6.000.000 đồng (Gồm giá trị chiếc điện thoại bị chiếm đoạt và 3.000.000 đồng trong tài khoản của AP).

- Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, Bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại, nên hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Những căn cứ xác định tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng, phù hợp với các tài liệu do Ngân hàng cung cấp, phù hợp với thực nghiệm điều tra cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Rạng sáng ngày 22/01/2022, tại phòng trọ của anh DDP ở số 31 ngách 57/347 đường Cổ Nhuế, phường Cổ Nhuế 2, quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội ĐNT đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại Iphone XS màu vàng 256G trị giá 8.000.000 đồng của anh VVT và 01 điện thoại Xiaomi 9T Pro trị giá 3.000.000 đồng của anh DDP. Ngoài ra, ĐNT còn có hành vi lấy điện thoại của anh DDP đăng nhập vào tài khoản của AP tại Ngân hàng quân đội để chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng của anh DDP.

Hành vi lén lút chiếm đoạt 02 chiếc điện thoại có giá trị 11.000.000 đồng như nêu trên của bị cáo ĐNT là dấu hiệu hoàn thành của tội “ Trộm cắp tài sản” được quy định tại Khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Hành vi bị cáo ĐNT đăng nhập vào tài khoản Ngân hàng quân đội của anh DDP chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng trong tài khoản của AP là dấu hiệu hoàn thành của tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Vì vậy, bản Cáo trạng số 226/CT-VKSBTL ngày 05/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm truy tố bị cáo ĐNT về tội danh và khung hình phạt trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Đánh giá về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội và động cơ mục đích phạm tội.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản và xâm phạm vào những quy định của Nhà nước về bảo vệ quyền sở hữu tài sản của cơ quan, cá nhân, tổ chức hoặc của công dân; quy định của Nhà nước về đảm bảo an toàn máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet hoặc thiết bị số của người khác là khách thể được Bộ luật hình sự quy định và bảo vệ. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Động cơ, mục đích là để trục lợi; nguyên nhân phạm tội của bị cáo là do bị cáo mải chơi, ham mê đánh game bài, trò chơi điện tử.

Hội đồng xét xử xét bị cáo cùng lúc thực hiện nhiều hành vi tội phạm, thể hiện sự coi thường pháp luật, sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn khỏi nơi cư trú, gây khó khăn trong công tác điều tra, xử lý vụ án. Vì vậy, cần xét xử nghiêm đối với bị cáo, tương xứng với tính chất, mức độ của từng tội danh mà bị cáo đã thực hiện nằm mục đích răn đe riêng và phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo ĐNT chỉ được hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm s Khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự, đó là “Thành khẩn khai báo”.

. Về hình phạt:

Đánh giá tính chất mức độ, hậu quả hành vi bị cáo ĐNT đã thực hiện, xem xét động cơ, mục đích, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo với mức án như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung (Phạt tiền):

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 173 và Khoản 5 Điều 290 BLHS, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, xét bị cáo đang bị tạm giam, không có nghề nghiệp và tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại trong vụ án là anh VVT, anh DDP có yêu cầu bồi thường dân sự: Anh T yêu cầu bị cáo bồi thường 8.000.000 đồng giá trị chiếc điện thoại Iphone XS, AP yêu cầu bị cáo bồi thường 6.000.000 đồng bao gồm giá trị chiếc điện thoại Xiaomi 9T Pro là 3.000.000 đồng và 3.000.000 đồng bị cáo đã chiếm đoạt trong tài khoản ngân hàng của AP.

Xét yêu cầu bồi thường của bị hại là có căn cứ, tại phiên tòa bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại nên cần buộc bị cáo ĐNT phải bồi thường cho các bị hại.

Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

Bị cáo ĐNT phạm tội “Trộm cắp tài sản ” và phạm tội “ Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173, khoản 1 Điều 290, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo ĐNT: 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo ĐNT: 09 (Chín) tháng tù về tội “ Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo ĐNT phải chấp hành hình phạt cho hai tội là 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03/8/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 357, 466,468 và Điều 589 của Bộ luật dân sự.

Buộc bị cáo ĐNT phải bồi thường số tiền 8.000.000 đồng cho anh VVT và bồi thường số tiền 6.000.000 đồng cho anh DDP.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án không thanh toán số tiền trên thì còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền chưa bồi thường theo mức lãi suất là 10%/năm cho đến khi thanh toán xong các khoản tiền bồi thường thiệt hại về tài sản.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/ 2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, nộp án phí lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo ĐNT phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 700.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử sơ thẩm công khai, Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên bản án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ