- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? 1- Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trương Thị Ánh H. Chị H. được ly hôn anh Đặng Thế Q.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 36 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 226/2021/HNGĐ-ST Ngày: 09/4/2021 V/v ly hôn, nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán, chủ toạ phiên toà: Bà Văn Thị Minh Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Cao Thị Chính
2. Ông Nguyễn Thành Đạt
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Thế Nữ Diệu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Trần An Vinh - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 4 năm 2021 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 1052/2020/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 11 năm 2020 tranh chấp về việc “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 44/2021/QĐST-HNGĐ ngày 19/3/2021, giữa các đương sự:
* Nguyeân ñôn : Chò Trương Thị Ánh H. - SN : 1975
Ñòa chæ
: Tổ 10, P. Q., TP. Q, tỉnh QN.
* Bò ñôn
: Anh Đặng Thế Q.
- SN : 1971
Ñòa chæ
: Tổ 1, KV2, P. B., Tp. QN, tỉnh BĐ
Tại phiên tòa hôm nay, Nguyên đơn, chị Trương Thị Ánh H. có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn, anh Đặng Thế Q. vắng mặt lần thứ 2 không có lý do (Tòa án đã tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 11/9/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, Nguyên đơn, chị Trương Thị Ánh H. trình bày:
Chị và anh Đặng Thế Q. có tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn ngày 01/11/1994 tại UBND thị trấn DT, huyện TP, tỉnh BĐ. Kể từ ngày kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Q. không lo làm ăn, không quan tâm lo lắng cho gia đình, chị đã khuyên can nhiều lần nhưng anh Q. không nghe. Vợ chồng sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc cho nhau. Nay chị thấy tình cảm không còn nên xin được ly hôn với anh Q. để ổn định cuộc sống.
Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung là các cháu:
- Đặng Như Q., sinh ngày 28/7/1995
- Đặng Quỳnh N., sinh ngày 25/12/2004
- Đặng Cửu Đ., sinh ngày 18/11/2008
Hiện nay 02 con đang sống chung với mẹ, sức khỏe bình thường. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi 02 con tên Đặng Quỳnh N., Đặng Cửu Đ., không yêu cầu anh Q. cấp dưỡng nuôi con. Riêng con tên Đặng Như Q. đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án anh Q. không chấp hành triệu tập của Tòa án, không đến Tòa làm việc và tại phiên tòa hôm nay anh Q. vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện VKSND Tp. Quy Nhơn phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Thẩm phán, HĐXX và thư ký chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn không thực hiện nghĩa vụ của mình theo quy định của BLTTDS.
- Quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đại diện VKSND thành phố Quy Nhơn đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Chị Trương Thị Ánh H. và anh Đặng Thế Q. tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 01/11/1994 tại UBND thị trấn DT, huyện TP, tỉnh BĐ, đây là hôn nhân hợp pháp. Chị H. trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống thường phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh Q. không lo làm ăn, không chăm lo cho gia đình. Chị H. đã khuyên can rất nhiều lần nhưng anh Q. không nghe, vẫn tính nào tật ấy.Vợ chồng chị sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm không còn, nên xin ly hôn anh Q. để ổn định cuộc sống.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng anh Quang không đến Tòa khai báo và làm việc. Tại phiên tòa hôm nay, HĐXX xét thấy vợ chồng chị H., anh Q. mâu thuẫn đã lâu, vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 đến nay, chị H. đã nhiều lần khuyên can anh Q. và cho anh Q. cơ hội để sửa đổi, vợ chồng đoàn tụ nhưng vẫn không được. Như vậy, mâu thuẫn của vợ chồng chị H., anh Q. đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên HĐXX chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hoa.
Về con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, chị H. yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên Đặng Quỳnh N., sinh ngày 25/12/2004, Đặng Cửu Đ., sinh ngày 18/11/2008, không yêu cầu anh Q. cấp dưỡng nuôi con. Riêng con tên Đặng Như Q., sinh năm 1995 đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa giải quyết. Xét thấy hiện nay cháu N., cháu Đ. còn nhỏ tuổi, hiện nay đang sống chung với mẹ và có nguyện vọng được sống với mẹ nên giao cho chị Hoa tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án chị H. không yêu cầu cấp dưỡng nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung: Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí HNGĐ sơ thẩm: Chị Trương Thị Ánh H. phải chịu 300.000đ nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo Biên lai số 0003059 ngày 18/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, chị H. đã nộp đủ án phí.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện VKSND thành phố Quy Nhơn phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn cũng phù hợp với nhận định của HĐXX.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 36 và điểm a, b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng các Điều 51, 56, 58 Luật Hôn nhân gia đình
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14.
Tuyên xử :
1- Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Trương Thị Ánh H. Chị H. được ly hôn anh Đặng Thế Q.
2 - Về con chung: Chị Trương Thị Ánh H. được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung tên: Đặng Quỳnh N., sinh ngày 25/12/2004, Đặng Cửu Đ., sinh ngày 18/11/2008. Riêng con tên Đặng Như Q. đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh Đặng Thế Q. đến khi các bên có đơn yêu cầu.
Vì lợi ích của con, khi cần thiết hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Hai bên có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc giáo dục và nuôi dưỡng con chung, không bên nào được ngăn cản.
3 - Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu, HĐXX không xem xét.
4 - Về án phí HNGĐST: Chị Trương Thị Ánh H. phải chịu 300.000đ nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo Biên lai số 0003059 ngày 18/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, chị H. đã nộp đủ án phí.
5 - Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - VKSNDTP Quy Nhơn - CC THA Tp.Quy Nhơn -UBND TT. Diêu Trì, H. Tuy Phước, Bình Định (Giấy CNKH số 59 ngày 01/11/1994) - Các đương sự - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Văn Thị Minh Hòa |