vanban.org

Bản án 226/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

của Luật Hôn nhân và gia đình;

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? của Luật Hôn nhân và gia đình;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 226/2021/HNGĐ-ST

Ngày: 23/04/2021

THỊ XÃ HOÀI NHƠN V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Bích. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Á 2. Bà Lê Thị Kim Hồng Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Xuân Diệu - Thư ký Tòa án Nhân dân thị xã Hoài Nhơn. Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Phước - Kiểm sát viên. Ngày 23 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 176/2021/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2021/QĐXX ST-HNGĐ ngày 10 tháng 3 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 241/2021/QĐST- HNGĐ ngày 26 /3 /2021 giữa các đương sự; 1. Nguyên đơn: Lê Trần Mỹ C, sinh năm 1992 (có mặt) Địa chỉ: Thôn 1, xã I , huyện Cơ, tỉnh G 2. Bị đơn: Anh Phạm Vương H, sinh năm 1992 (vắng mặt) Địa chỉ: Khu Phố 1, phường Q, thị xã N, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn chị Lê Trần Mỹ C trình bày: Về hôn nhân: Chị Lê Trần Mỹ C và anh Phạm Vương H tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn vào ngày 23 tháng 5 năm 2014 tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện N (nay là phường Q, thị xã N), tỉnh B. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải nhau, anh H thiếu trách nhiệm với gia đình nên tình cảm ngày càng rạn nứt, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, chị và anh H không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay, gia đình cha mẹ hai bên có hòa giải nhưng vợ chồng vẫn không thể đoàn tụ được. Do đó, chị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Phạm Vương H. Về nuôi con chung: Vợ chồng có một con chung tên Phạm Lê Quỳnh L, sinh ngày 07/12/2014, hiện nay cháu L đang ở với chị C. Ly hôn chị C yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con . Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phát biểu ý kiến: - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án phù hợp với quy định của pháp luật. - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn vắng mặt lần hai tại phiên tòa không có lý do nên Tòa tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự. - Về việc giải quyết vụ án: + Về hôn nhân: Căn cứ các Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Lê Trần Mỹ C được ly hôn anh Phạm Vương H. + Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Lê Quỳnh L, sinh ngày 07/12/2014 cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của chị C không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con + Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết - Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị C phải chịu theo quy định pháp luật. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án dân sự được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án

nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Lê Trần Mỹ C yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn giải quyết việc hôn nhân và gia đình của chị; Bị đơn anh Phạm Vương H cư trú tại phường Q , thị xã H, tỉnh B. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Nhân dân thị xã N Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh Phạm Vương H nhưng anh H vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn tiến hành xét xử vắng mặt anh Phạm Vương H. [2] Về nội dung: [2.1] Về hôn nhân: Chị Lê Trần Mỹ C và anh Phạm Vương H tự nguyện tìm hiểu nhau và đi đến hôn nhân có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Q, huyện N ( nay là phường Q, thị xã N), tỉnh B theo Giấy chứng nhận kết hôn số 63/2014 ngày 23 tháng 5 năm 2014. Căn cứ vào Luật hôn nhân và gia đình nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Theo lời trình bày của chị C, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, anh H thiếu trách nhiệm với gia đình, vợ chồng thường xuyên cải nhau từ đó tình cảm ngày càng rạn nứt, mâu thuẫn không thể hàn gắn được, hiện tại vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ năm 2018 đến nay. Chị C yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh H để ổn định cuộc sống. Biên bản xác minh ngày 27 / 01 /2021 tại Phòng lao động Thương binh và xã hội thị xã N thể hiện: tình trạng hôn nhân vợ chồng chị Lê Trần Mỹ C và anh Phạm Vương H phát sinh mâu thuẫn như thế nào thì cơ quan không rõ. Về con chung của chị C và anh H , đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy, giữa chị Lê Trần Mỹ C và anh Phạm Vương H trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, vợ chồng không còn quan tâm và chăm sóc nhau dẫn đến tình cảm ngày rạn nứt không thể hàn gắn được, gia đình cha mẹ hai bên đã hòa giải nhưng vợ chồng chị vẫn không thể đoàn tụ được. Nay chị C kiên quyết yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, Tòa án tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng anh H luôn vắng mặt, từ diễn biến trên chứng tỏ anh H đã bỏ mặc quan hệ hôn nhân của mình và không có thiện chí mong muốn gia đình được đoàn tụ. Xét thấy, tình trạng mâu thuẫn giữa chị C và anh H đã đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc chị C yêu cầu được ly hôn với anh H là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. [2.2] Về yêu cầu nuôi con chung: Chị C và anh H có một con chung tên Phạm Lê Quỳnh L, sinh ngày 07/12/2014, Chị C yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, chị C có việc làm, thu nhập ổn định, cháu L hiện đang ở ổn định với chị C. Do vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu L nên cần giao cháu Phạm Lê Quỳnh L cho chị C trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Điều 81 của luật hôn nhân và gia đình. Ghi nhận tự nguyện của chị C không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. [2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị C không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. [3] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. [4] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị C phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 các Điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án”; Tuyên xử: 1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Trần Mỹ C và anh Phạm Vương H. 2. Về nuôi con chung: Giao cháu Phạm Lê Quỳnh L, sinh ngày 07/12/2014 cho chị Lê Trần Mỹ C trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận tự nguyện của chị C không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. 3. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. 4. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Chị Lê Trần Mỹ C phải chịu 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng) sung công quỹ Nhà nước, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm chị C đã nộp theo biên lai thu số 0000398 ngày 22 tháng 01 năm 2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã N. 5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ để Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ