vanban.org

Bản án 226/2021/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Đà Nẵng Tuyên án 01/11/2021 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 01/11/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Lê Văn P.

Giữ nguyên quyết định của bản án hành chính sơ thẩm 02/2021/HC-ST ngày 22 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn P về việc yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 6272/QĐ-UBND ngày 06/10/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Đị… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Người khởi kiện: Ông Lê Văn P; trú tại: xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Lê Văn P.
  • Căn cứ chính? Luật Khiếu nại; Luật Đất đai và Kết luận; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 226/2021/HC-PT
Ngày: 01/11/2021
V/v “Khiếu kiện quyết định
hành chính trong lĩnh vực
quản lý đất đai”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Xuân Thành

Các Thẩm phán: Ông Vũ Thanh Liêm

Ông Nguyễn Văn Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Ngô Yến Nhi - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 165/2021/TLPT-HC ngày 02 tháng 3 năm 2021 về “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”. Do bản án hành chính sơ thẩm số 02/2021/HC-ST ngày 22 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định bị kháng cáo, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Lê Văn P; trú tại: xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H (có mặt).

- Người b kiện:

1. Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định;

2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định;

Người đại diện theo ủy quyền của người b kiện: Ông Nguyễn Chí C – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã H (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền l i, nghĩa v liên quan:

1. Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đặng Quốc B – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H (có đơn xin xét xử vắng mặt)

2. Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Định – Chi nhánh thị xã H;

Người đại diện h p pháp: Ông Ngô Thành L – Giám đốc (có đơn xin xét xử vắng mặt)

3. Bà Đào Thị Đ; (vắng mặt)

4. Anh Lê Văn T; (vắng mặt)

5. Anh Lê Văn C; (vắng mặt)

6. Chị Lê Thị L; (vắng mặt)

7. Anh Lê Văn B; (vắng mặt)

Cùng trú tại: xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm nội dung vụ án như sau:

Tại đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, người khởi kiện ông Lê Văn P trình bày:

Ông đã làm đơn khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Định (nay là Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định - Viết tắt là Chủ tịch UBND thị xã H) và các cấp có thẩm quyền về việc Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Bình Định (nay là Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định - Viết tắt là UBND thị xã H) không xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Viết tắt là GCN) cho hộ gia đình ông tại một phần các thửa đất số 12, 35 và 628, tờ bản đồ số 40 (Bản đồ VN 2000), diện tích 453m2 tại thôn L, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định (viết tắt là các thửa đất số 12, 35 và 628).

Ngày 30/3/2020, UBND thị xã H đã ban hành Văn bản số 348/UBND-TNMT về việc không thống nhất cấp GCN cho hộ gia đình ông đối với các thửa đất nói trên (Viết tắt là Văn bản số 348). Sau đó ông đã có đơn khiếu nại Văn bản số 348 gửi đến Chủ tịch UBND thị xã H.

Ngày 06/10/2020, Chủ tịch UBND thị xã H ban hành Quyết định số 6272/QĐ-UBND (Viết tắt là Quyết định số 6272); nội dung quyết định là không công nhận nội dung khiếu nại của ông đối với Văn bản số 348 và giữ nguyên Văn bản số 348 về việc không thống nhất cấp GCN tại một phần các thửa đất số 12, 35 và 628 cho hộ gia đình ông.

Việc UBND thị xã H từ chối cấp GCN tại một phần các thửa đất số 12, 35 và 628 cho hộ gia đình ông là trái pháp luật vì hồ sơ đã được Ủy ban nhân dân xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định (Viết tắt là UBND xã H) lập đề nghị cấp GCN theo quy định; lý do UBND thị xã H đưa ra là do quy hoạch của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định (Viết tắt là UBND tỉnh Bình Định) đến năm 2035 xây dựng đô thị H theo Quyết định số 2185/QĐ-UBND ngày 27/6/2019 nhưng hồ sơ xin cấp GCN của ông làm khi chưa có quyết định quy hoạch của UBND tỉnh Bình Định; ngoài ra, theo quy định tại Điều 100 và 101 Luật đất đai năm 2013 thì hộ gia đình ông đủ điều kiện được cấp GCN tại một phần các thửa đất số 12, 35 và 628. Do đó, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 6272 và buộc UBND thị xã H thực hiện việc cấp GCN tại một phần các thửa đất số 12, 35 và 628 cho hộ ông theo quy định.

Bên cạnh các đơn khởi kiện vụ án hành chính, bản sao quyết định hành chính bị kiện, ông Lê Văn P còn cung cấp cho Tòa án một số tài liệu, chứng cứ khác có liên quan đến yêu cầu khởi kiện. Ngoài ra, ông P không tự mình thu thập được bất kỳ chứng cứ nào khác và không yêu cầu Tòa án thu thập thêm tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án.

Người đại diện theo ủy quyền của người b kiện, ông Nguyễn Chí Công – Phó Chủ t ch Ủy ban nhân dân th xã H, tỉnh Bình Đ nh trình bày:

Theo hồ sơ địa chính năm 1983: Phần diện tích đất ông Lê Văn P đề nghị cấp GCN được thể hiện tại một phần thửa đất số 50, tờ bản đồ số 18, loại đất Kp (đất khai hoang phục hóa), Sổ mục kê ruộng đất ghi: Hợp tác xã Nông nghiệp H III.

Theo hồ sơ địa chính năm 1997: Phần diện tích đất trên thể hiện tại một phần thửa đất số 50, tờ bản đồ số 18, loại đất Rt/G (đất rừng trồng gỗ), Sổ Mục kê ghi: Do UBND xã H quản lý.

Theo hồ sơ địa chính hệ tọa độ VN 2000: thuộc một phần các thửa đất số 12, 35 và 628, tờ bản đồ số 40, cụ thể:

- Thửa đất số 12, tổng diện tích 18.460,0m2 đất trồng cây lâu năm, Sổ Mục kê ghi: Lê P (chưa cấp GCN)

- Thửa đất số 35, tổng diện tích 309,0m2 đất ở và đất trồng cây lâu năm, Sổ Mục kê ghi: Lê P (chưa cấp GCN).

- Thửa đất số 628, tổng diện tích 126,8m2 đất ở, Sổ Mục kê ghi Trương Văn Lại (chưa cấp GCN).

Ngày 19/6/2019, ông Lê Văn P có đơn đăng ký, cấp GCN tại các thửa đất số 12, 35 và 628 để sử dụng vào mục đích đất ở; nguồn gốc thửa đất ông Lê Văn P kê khai do lấn chiếm đất UBND xã H quản lý từ năm 2001.

Ngày 22/7/2019, UBND xã H đã phối hợp với Ban nhân dân thôn L lấy phiếu ý kiến khu dân cư nơi có đất để xác định nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 18.

Ngày 30/7/2019, UBND xã H ban hành Thông báo số 129/TB-UBND ngày 30/7/2019 về việc công khai danh sách xin cấp GCN của ông Lê Văn P và bà Đào Thị Đ; nơi thường trú: thôn L, xã H niêm yết công khai trong thời gian là 15 ngày, từ ngày 31/7/2019 đến ngày 14/8/2019 tại trụ sở UBND xã H và Nhà văn hóa thôn L.

Ngày 15/8/2019, UBND xã H lập Biên bản kết thúc niêm yết công khai Thông báo số 129/TB-UBND ngày 30/7/2019 và danh sách công khai kết quả kiểm tra hồ sơ đăng ký, cấp GCN của ông Lê Văn P và bà Đào Thị Đ; nơi thường trú thôn L, xã H.

Ngày 19/8/2019, UBND xã H xác nhận ông Lê Văn P sử dụng ổn định tại một phần các thửa đất số 12, 35 và 628, diện tích 453m2 (đã trừ diện tích đất thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông tuyến đường ĐT639), nguồn gốc đất do lấn chiếm năm 2001, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch.

Ngày 30/9/2019, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Định – Chi nhánh thị xã H (Viết tắt là Chi nhánh VPĐKĐĐ H) có Văn bản số 702/TB-CNVPĐKĐĐ về việc chuyển trả hồ sơ đề nghị cấp GCN của ông Lê Văn P với lý do: UBND thị xã H đã chuyển vụ việc đến Thanh tra thị xã H để kiểm tra việc đề nghị cấp GCN cho ông Lê Văn P.

Ngày 10/12/2019, Chủ tịch UBND thị xã H đã có kết luận thanh tra việc chấp hành pháp luật trong công tác quản lý, sử dụng đất đai của UBND xã H thời kỳ từ ngày 01/01/2018 đến ngày 30/9/2019 tại Văn bản số 08/KL-UBND, kết luận trường hợp ông P như sau: UBND xã H nhận trách nhiệm sai sót trong việc không đối chiếu rà soát với các quy hoạch khác trong quá trình xem xét hồ sơ đề nghị cấp GCN dẫn đến có 5/6 hồ sơ rơi vào trường hợp không phù hợp quy hoạch nhưng vẫn đề nghị cấp GCN; trong đó thửa đất ông Lê Văn P đề nghị cấp GCN thuộc quy hoạch đất cây xanh và toàn bộ thửa đất nằm trong vùng có nguy cơ sạt lở dưới chân đèo L.

Ngày 30/3/2020, UBND thị xã H đã ban hành Văn bản số 348 về việc không thống nhất cấp GCN tại một phần các thửa đất số 12, 35 và 628 cho gia đình ông vì không phù hợp với Quy hoạch chung xây dựng đô thị H đến năm 2035 được UBND tỉnh Bình Định phê duyệt tại Quyết định số 2185/QĐ-UBND ngày 27/6/2019 và toàn bộ diện tích thửa đất đề nghị cấp GCN nằm trong vùng có nguy cơ sạt lở dưới chân đèo L.

Ngày 20/4/2020, ông P có đơn khiếu nại Văn bản số 348. Từ kết quả kiểm tra, xác minh và đối thoại ngày 27/8/2020, căn cứ khoản 3 Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và Kết luận số 08/KL-UBND ngày 10/12/2019 của Chủ tịch UBND thị xã H; ngày 06/10/2020, Chủ tịch UBND thị xã H đã ban hành Quyết định số 6272 về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn P (lần đầu), có nội dung: Không công nhận nội dung khiếu nại của ông Lê Văn P khiếu nại Văn bản số 348 và giữ nguyên Văn bản số 348 là đúng quy định pháp luật.

Từ những căn cứ nói trên, Quyết định số 6272 được ban hành đúng quy định pháp luật; do đó, Chủ tịch UBND thị xã H và UBND thị xã H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn P về việc yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 6272 và buộc UBND thị xã H thực hiện việc cấp GCN tại một phần các thửa đất số 12, 35 và 628 cho hộ ông P theo quy định. Ngoài ra, Chủ tịch UBND thị xã H và UBND thị xã H không có trình bày hoặc yêu cầu phản tố, độc lập nào khác.

Người đại diện theo ủy quyền của h p pháp của Chủ t ch Ủy ban nhân dân xã H, th xã H, tỉnh Bình Đ nh, ông Đặng Quốc B – Phó Chủ t ch trình bày:

UBND xã H thống nhất với nội dung trình bày của Chủ tịch UBND thị xã H và UBND thị xã H. UBND xã H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn P về việc yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 6272 và buộc UBND thị xã H thực hiện việc cấp GCN tại một phần các thửa đất số 12, 35 và 628 cho hộ ông P theo quy định. Ngoài ra, UBND xã H không có trình bày hoặc yêu độc lập nào khác.

Người đại diện h p pháp của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Đ nh – Chi nhánh th xã H, ông Ngô Thành L – Giám đốc trình bày:

Chi nhánh VPĐKĐĐ H thống nhất với nội dung trình bày của Chủ tịch UBND thị xã H và UBND thị xã H về hồ sơ quản lý đất đai đối với phần diện tích đất ông Lê Văn P đề nghị cấp GCN; trình tự, thủ tục lập hồ sơ đề nghị cấp GCN của ông P. Hiện nay, các thửa đất số 12, 35 và 628 vẫn chưa được cấp GCN.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn P, Chi nhánh VPĐKĐĐ H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định. Ngoài ra, Chi nhánh VPĐKĐĐ H không có trình bày hoặc yêu độc lập nào khác.

Những người có quyền l i, nghĩa v liên quan là bà Đào Th Đ, anh Lê Văn T, anh Lê Văn C, ch Lê Th L và anh Lê Văn B thống nhất trình bày:

Bà Đ, anh T, anh C, chị L và anh B là vợ và con của ông Lê Văn P. Những người nói trên thống nhất với nội dung trình bày và yêu cầu khởi kiện của ông P; ngoài ra, không có ai có trình bày hoặc yêu cầu độc lập nào khác.

Với nội dung nêu trên tại bản án hành chính sơ thẩm số:02/2021/HC-ST ngày 22/01/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã quyết định.

- Căn cứ vào quy định tại Điều 30; Điều 32; Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 và Điều 194 Luật Tố tụng hành chính.

- Căn cứ vào quy định của Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011; Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22/11/2019; Luật Đất đai ngày 29/11/2013; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại ngày 11/11/2011; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Thông tư số 02/2016/TT-TTCP ngày 20/10/2016 của Thanh tra Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính.

- Căn cứ quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn P về việc yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 6272/QĐ-UBND ngày 06/10/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn P (lần đầu).

2. Bác yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn P về việc yêu cầu Tòa án buộc Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại một phần các thửa đất số 12, 35 và 628, tờ bản đồ số 40 (Bản đồ VN 2000), diện tích 453m2 tại thôn L, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định cho hộ ông P theo quy định.

Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo của đương sự.

Trong hạn luật định ông Lê văn P kháng cáo bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Ông Lê văn P vẫn giữ nguyên đơn kháng cáo.

Trong phần phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cho rằng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính, các đương sự thực hiện đúng quyền nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Lê Văn P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, các quy định của pháp luật; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Ngày 19/6/2019, ông Lê Văn P có đơn đăng ký, cấp GCN tại các thửa đất số 12, 35 và 628 để sử dụng vào mục đích đất ở; nguồn gốc thửa đất ông Lê Văn P kê khai do lấn chiếm đất UBND xã H quản lý từ năm 2001.

Ngày 19/8/2019, UBND xã H xác nhận ông Lê Văn P sử dụng ổn định tại một phần các thửa đất số 12, 35 và 628, diện tích 453,0m2 (đã trừ diện tích đất thuộc chỉ giới quy hoạch giao thông tuyến đường ĐT 639), nguồn gốc đất do lấn chiếm năm 2001, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch.

Ngày 30/9/2019, Chi nhánh VPĐKĐĐ H có Văn bản số 702/TB-CNVPĐKĐĐ về việc chuyển trả hồ sơ đề nghị cấp GCN của ông Lê Văn P với lý do: UBND thị xã H đã chuyển vụ việc đến Thanh tra thị xã H để kiểm tra việc đề nghị cấp GCN cho ông Lê Văn P.

Xét kháng cáo của ông Lê Văn P, Hội đồng xét xử xét thấy:

Ngày 10/12/2019, Chủ tịch UBND thị xã H đã có kết luận thanh tra việc chấp hành pháp luật trong công tác quản lý, sử dụng đất đai của UBND xã H thời kỳ từ ngày 01/01/2018 đến ngày 30/9/2019 tại Văn bản số 08/KL-UBND, kết luận trường hợp ông Lê Văn P như sau: UBND xã H nhận trách nhiệm sai sót trong việc không đối chiếu rà soát với các quy hoạch khác trong quá trình xem xét hồ sơ đề nghị cấp GCN dẫn đến có 5/6 hồ sơ rơi vào trường hợp không phù hợp quy hoạch nhưng vẫn đề nghị cấp GCN; trong đó thửa đất ông P đề nghị cấp GCN thuộc quy hoạch đất cây xanh và toàn bộ thửa đất nằm trong vùng có nguy cơ sạt lở dưới chân đèo L.

Ngày 30/3/2020, UBND thị xã H đã ban hành Văn bản số 348 về việc không thống nhất cấp GCN tại một phần các thửa đất số 12, 35 và 628 cho gia đình ông P vì không phù hợp với Quy hoạch chung xây dựng đô thị H đến năm 2035 được UBND tỉnh Bình Định phê duyệt tại Quyết định số 2185/QĐ-UBND ngày 27/6/2019 và toàn bộ diện tích thửa đất đề nghị cấp GCN nằm trong vùng có nguy cơ sạt lở dưới chân đèo L.

Xét thấy: Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 đã được UBND tỉnh Bình Định phê duyệt tại Quyết định số 1077/QĐ-UBND ngày 03/4/2019 thì vị trí đất nói trên được quy hoạch là khu dân cư mới. Theo quy hoạch chung xây dựng đô thị H đến năm 2035 được UBND tỉnh Bình Định phê duyệt tại Quyết định số 2185/QĐ-UBND ngày 27/6/2019 vì vị trí đất nói trên quy hoạch đất cây xanh. Ngoài ra, toàn bộ diện tích thửa đất đề nghị cấp GCN nằm trong vùng có nguy cơ sạt lở dưới chân đèo L.

Như vậy: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 22 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và Kết luận số 08/KL-UBND ngày 10/12/2019 của Chủ tịch UBND thị xã H thì nội dung Văn bản số 348 về việc không thống nhất cấp GCN tại một phần các thửa đất số 12, 35 và 628 cho gia đình ông P vì không phù hợp với Quy hoạch chung xây dựng đô thị H đến năm 2035 được UBND tỉnh Bình Định phê duyệt tại Quyết định số 2185/QĐ-UBND ngày 27/6/2019 và toàn bộ diện tích thửa đất đề nghị cấp GCN nằm trong vùng có nguy cơ sạt lở dưới chân đèo L là đúng quy định.

Bản án sơ thẩm không chấp nhận đơn khởi kiện của ông Lê Văn P về việc “yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 6272/QĐ-UBND ngày 06/10/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn P” là có căn cứ đúng pháp luật. Tại phiên tòa phúc thẩm không có chứng cứ nào mới cẩn được xem xét do vậy đơn kháng cáo của ông Lê Văn P không có căn cứ được chấp nhận.

Về án phí hành chính phúc thẩm: Căn cứ quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường Vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông Lê Văn P thuộc trường hợp người cao tuổi nên được miễn tiền án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính.

Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông Lê Văn P.

Giữ nguyên quyết định của bản án hành chính sơ thẩm 02/2021/HC-ST ngày 22 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.

Căn cứ Điều 30; Điều 32; Điều 116; điểm a khoản 2 Điều 193 và Điều 194 Luật Tố tụng hành chính.

- Căn cứ vào quy định của Luật Khiếu nại số 02/2011/QH13 ngày 11/11/2011; Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22/11/2019; Luật Đất đai ngày 29/11/2013; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại ngày 11/11/2011; Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính; Thông tư số 02/2016/TT-TTCP ngày 20/10/2016 của Thanh tra Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính.

- Căn cứ quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn P về việc yêu cầu Tòa án hủy Quyết định số 6272/QĐ-UBND ngày 06/10/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định về việc giải quyết khiếu nại của ông Lê Văn P (lần đầu).

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn P về việc yêu cầu Tòa án buộc Ủy ban nhân dân thị xã H, tỉnh Bình Định thực hiện việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại một phần các thửa đất số 12, 35 và 628, tờ bản đồ số 40 (Bản đồ VN 2000), diện tích 453m2 tại thôn L, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định cho hộ ông P theo quy định.

3. Về án phí hành chính phúc thẩm: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Lê Văn P.

Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ