vanban.org

Bản án 226/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Tuyên án 25/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tạ Ngọc Ph, Nguyễn Đình N Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐIỆN BIÊN
Bản án số: 226/2020/HS-ST
Ngày: 25/9/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguy n Thanh Ng c

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lường Văn Hịa

2. Ông Lò Thanh Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà h m Thị Châm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên tham gia phiên toà: Bà Nhữ Thị Thanh Nhàn - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2020 t i trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 225/2020/TLST-HS ngày 31 tháng 8 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 232/2020/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 9 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. T Ng c Ph, tên g i khác: không; sinh năm: 1959 t i Điện Biên;

Nơi cư trú: Thôn H, x Th, huyện Đ, tỉnh Điện Biên;

Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hoá: 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông T Đức C và bà Đinh Thị H, có vợ là Nguy n Thị Đ (đ ly hôn), bị cáo có 03 con. Tiền án: 01 tiền án; tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2004 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên hủ, tỉnh Điện Biên xử ph t 24 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản t i bản án số 14/HSST ngày 28/10/2004, bị cáo đ chấp hành xong và được xóa án tích. Năm 2014 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên xử ph t 08 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy t i bản án số 102/2014/HSST ngày 16/4/2014 bị cáo đ chấp hành xong hình ph t tù nhưng chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt, bị t m giữ từ ngày 04/6/2020, sau đó bị t m giam cho đến nay, có mặt t i phiên tòa.

2. Nguy n Đình N, tên g i khác: không; sinh năm: 1983 t i Điện Biên;

Nơi cư trú: Bản h, xã N, huyện Đ, tỉnh Điện Biên;

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguy n Đình Ch và bà Bùi Thị D, có vợ là Nguy n Mai L, bị cáo có 02 con. Tiền án: 01 tiền án; tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên hủ, tỉnh Điện Biên xử ph t 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 28/11/2018 về tội Vi ph m qui định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm t i bản án số 114/2018/HS-ST ngày 28/11/2018, bị cáo chưa chấp hành xong. Bị cáo bị bắt, bị t m giữ từ ngày 04/6/2020, sau đó bị t m giam cho đến nay, có mặt t i phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 07 giờ 20 phút ngày 04/6/2020, khi Nguy n Đình N điều khiển xe mô tô BKS 27P1-01470 đi trên đường thuộc bản Xôm, x Thanh An, huyện Điện Biên thì bị Tổ công tác Công an huyện Điện Biên phối hợp với Công an xã Thanh An phát hiện bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác thu giữ trong chiếc ví ở túi quần đằng sau bên phải N đang mặc 01 gói bằng nilon màu xanh chứa 01 (một) viên Methamphetamine và thu t i túi quần bên phải N đang mặc 01 gói được gói bằng nilon màu trắng, bên trong chứa 08 (tám) viên Methamphetamine, có khối lượng 0,94 (không phẩy chín mươi bốn) gam. Ngoài ra còn t m giữ của N 01 xe mô tô biển kiểm soát 27 1 - 01470 và 01 ví N màu đen kích thước (22x19) cm, đ qua sử dụng. N khai mục đích cất giấu số ma túy trên để sử dụng, nguồn gốc số ma túy bị thu giữ là do trước đó mua của T Ng c Ph t i bản Xôm, x Thanh An, huyện Điện Biên với giá 270.000 (hai trăm bảy mươi nghìn) đồng. Chiếc xe mô tô là do N mượn của mẹ đẻ là Bùi Thị D để đi uống methadone.

Hồi 09 giờ ngày 04/6/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên khám xét khẩn cấp t i nơi ở của T Ng c Ph t i thôn Hồng Cúm, x Thanh An, huyện Điện Biên đ thu giữ dưới đệm ngủ của Ph 01 viên Methamphetamine không gói gì và thu giữ trong chậu ở phòng thờ trên gác xép nhà Ph 01 gói bằng nilon màu đen, bên trong chứa 36 viên Methamphetamine, tổng khối lượng là 3,67 (ba phẩy sáu mươi bảy) gam. Ph khai nhận: Số ma túy bị thu giữ trên có được là do Ph mua của một người đàn ông tên là Chung, người dân tộc Thái, nhà ở x Thanh Yên, huyện Điện Biên (không rõ thôn, bản) t i quán nước thuộc bản Xôm, x Thanh An, huyện Điện Biên vào khoảng 18 giờ ngày 03/6/2020 được 50 viên với giá 850.000 đồng. Mục đích Ph mua ma túy để sử dụng. Sau khi mua được, Ph đ sử dụng nhiều lần hết 13 viên, rồi lấy 01 viên để dưới đệm ngủ của mình, số còn l i thì được Ph gói và cất giấu trong chậu ở phòng thờ trên gác xép nhà Ph. T Ng c Ph không thừa nhận đ bán Methamphetamine cho Nguy n Đình N như N khai báo.

Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27 P1-01470 qua xác minh là tài sản hợp pháp của bà Bùi Thị D. Bà D không biết N sử dụng xe vào việc ph m tội. Vì vậy, Cơ quan điều tra đ trả l i xe cho bà D theo Quyết định xử lý vật chứng số 55/QĐ ngày 23/7/2020.

Trong quá điều tra và t i phiên tòa, các bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo. Các bị cáo nhất trí và không có ý kiến hay khiếu n i gì về kết luận điều tra của cơ quan điều tra; quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

Bản cáo tr ng số: 223/CT-VKSĐB ngày 31/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo T Ng c Ph, bị cáo Nguy n Đình N về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo qui định t i điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự. T i phiên tòa đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự xử ph t bị cáo T Ng c Ph từ 04 năm đến 04 năm 03 tháng tù, xử ph t bị cáo Nguy n Đình N với mức hình ph t từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 2 điều 56, khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự tổng hợp với hình ph t 15 tháng tù t i bản án số 114/2018/HS-ST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên hủ, tỉnh Điện Biên buộc Nguy n Đình N phải chịu hình ph t chung của hai bản án. Không áp dụng hình ph t bổ sung là ph t tiền đối với các bị cáo. Căn cứ điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 3,67 gam Methamphetamine thu giữ của T Ng c Ph đ trích mẫu giám định 0,2 gam còn l i 3,47 gam và 0,94 gam Methamphetamine thu giữ của Nguy n Đình N đ trích mẫu giám định 0,21 gam còn l i 0,73 gam, 01 ví N màu đen thu giữ của Nguy n Đình N; Chấp nhận việc trả vật chứng t i quyết định xử lý vật chứng số 55/QĐ ngày 23/7/2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Điện Biên. Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Lời nói sau cùng của bị cáo:

Bị cáo Ph: Bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo vì hoàn cảnh của bị cáo tuổi đ cao, phải trông nom phụng dưỡng cha mẹ già.

Bị cáo N: Bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình ph t cho bị cáo vì hoàn cảnh bố mẹ bị cáo thường hay ốm đau, vợ đang ly thân, con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét hành vi ph m tội của các bị cáo:

Hồi 07h20’ ngày 04/6/2020, t i đường đi thuộc bản Xôm, xã Thanh An, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên Nguy n Đình N đã có hành vi tàng trữ trái phép chất 0,94 gam Methamphetamine để bản thân sử dụng.

Hồi 09h 00’ ngày 04/6/2020, t i nhà của mình thuộc thôn Hồng Cúm, xã Thanh An, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên T Ng c Ph đã có hành vi tàng trữ trái phép 3,67 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng.

Các hành vi trên đây của Ph và N đ trực tiếp xâm ph m đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Ph, N là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đ thực hiện hành vi với l i cố ý trực tiếp. Hành vi trên của các bị cáo đ được chứng minh t i các biên bản: bắt người ph m tội quả tang, khám xét, t m giữ đồ vật tài liệu, niêm phong, mở niêm phong vật chứng của vụ án, t i kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo t i phiên tòa.

Như vậy, Hội đồng xét xử thấy đủ căn cứ xác định bị cáo Ph và bị cáo N có tội. Bị cáo Ph, bị cáo N đ ph m tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định t i điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự đúng như cáo tr ng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đ truy tố.

Xét tính chất, mức độ nghiêm tr ng của hành vi ph m tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi trên của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho x hội có tính chất nghiêm tr ng, bởi nó đ trực tiếp xâm ph m đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự, trị an và an toàn x hội. Hành vi ph m tội của các bị cáo xuất phát từ động cơ nghiện chất ma tuý, coi thường pháp luật; Mục đích của các bị cáo là nhằm thỏa m n ham muốn của cá nhân. Bị cáo Ph tàng trữ khối lượng ma túy lớn hơn nên có tính chất nghiêm tr ng hơn hành vi của bị cáo N. Bị cáo Ph không thừa nhận hành vi bán ma túy cho bị cáo N, hành vi của từng bị cáo là độc lập, riêng lẻ nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm riêng về hành vi của mình.

Trong quá trình điều tra và t i phiên toà các bị cáo đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi ph m tội của mình đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định t i điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Ph có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến h ng nhất, huân chương chiến sỹ vẻ vang h ng ba, huy chương chiến thắng h ng 2 và mẹ đẻ được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến h ng nhì; Bị cáo N có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng huy chương h ng nhì. Do đó, các bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định t i khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo đều ph m tội do cố ý khi chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tái ph m theo quy định t i điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm cho x hội của hành vi ph m tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của từng bị cáo; nhằm thể hiện tính nghiêm minh, nghiêm khắc và răn đe của pháp luật với tội ph m và những hành vi vi ph m pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình ph t tù có thời h n đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi x hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đủ sức răn đe đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình ph t và việc tổng hợp hình ph t của Đ i diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên đề xuất áp dụng đối với các bị cáo là có cơ sở cần chấp nhận.

Về vật chứng vụ án:

Hội đồng xét xử xét thấy 3,67 gam Methamphetamine thu giữ của T Ng c Ph đ trích mẫu giám định 0,2 gam còn l i 3,47 gam và 0,94 gam Methamphetamine thu giữ của Nguy n Đình N đ trích mẫu giám định 0,21 gam còn l i 0,73 gam là vật thuộc lo i Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành; 01 ví N màu đen thu giữ của Nguy n Đình N dùng để cất giấu ma túy là công cụ phương tiện ph m tội không có giá trị nên cần căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy. Chiếc xe mô tô biển kiểm soát 27 1-01470 thu giữ của Nguy n Đình N cơ quan điều tra đ trả cho chủ sở hữu đúng qui định nên cần căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự chấp nhận việc trả vật chứng này.

Về hình ph t bổ sung:

Theo quy định t i khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự các bị cáo có thể bị áp dụng hình ph t bổ sung là hình ph t tiền hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo t i phiên tòa đều cho thấy các bị cáo là đối tượng có thu nhập thấp, hoàn cảnh kinh tế khó khăn và không có tài sản gì có giá trị lớn. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình ph t bổ sung đối với các bị cáo.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc các bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Các vấn đề khác có liên quan: T Ng c Ph khai mua ma túy của người đàn ông tên là Chung, không rõ địa chỉ cụ thể. Cơ quan điều tra không có đủ cơ sở điều tra làm rõ. Vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập việc xử lý đối với người này. Nguy n Đình N khai mua ma túy của Ph, Ph không thừa nhận đ bán ma túy cho N, Cơ quan điều tra không đủ cơ sở xác định Ph đ bán ma túy cho N nên hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện Điện Biên; Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, trong quá trình điều tra, truy tố đ được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng này đều đảm bảo tính hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 điều 249, điểm h khoản 1 điều 52, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, khoản 2 Điều 136, khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh:

- Tuyên bố bị cáo T Ng c Ph ph m tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

- Tuyên bố bị cáo Nguy n Đình N ph m tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

2. Về hình ph t:

- Xử ph t bị cáo T Ng c Ph 04 ( bốn ) năm 03 ( ba) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bị bắt, bị t m giữ (04/6/2020).

- Xử ph t bị cáo Nguy n Đình N 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Áp dụng khoản 2 điều 56, khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự, tổng hợp với hình ph t 15 tháng tù về tội Vi ph m qui định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm t i bản án số 114/2018/HS-ST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên hủ, tỉnh Điện Biên buộc bị cáo N phải chịu hình ph t chung là 03 (ba) năm tù. Thời h n chấp hành hình ph t tù tính từ ngày bị bắt, bị t m giữ (04/6/2020).

- Không áp dụng hình ph t bổ sung đối với các bị cáo.

3. Về vật chứng vụ án:

- Tịch thu tiêu hủy: 3,67 gam Methamphetamine thu giữ của T Ng c Ph đ trích mẫu giám định 0,2 gam còn l i 3,47 gam và 0,94 gam Methamphetamine thu giữ của Nguy n Đình N đ trích mẫu giám định 0,21 gam còn l i 0,73 gam; 01 ví N màu đen thu giữ của Nguy n Đình N. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/9/2020 giữa Công an huyện Điện Biên và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.)

- Chấp nhận việc xử lý vật chứng t i quyết định xử lý vật chứng số 55/QĐ ngày 23/7/2020 của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên.

4. Về án phí:

M i bị cáo T Ng c Ph, Nguy n Đình N phải chịu số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời h n 15 ngày kể từ ngày tuyên án (25/9/2020).

Cỡ chữ