- Tranh chấp gì? án hành chính — "khiếu kiện Quyết định giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai"
- Tòa quyết gì? ng Đ. Giữ nguyên bản án sơ thẩm án số: 03
- Căn cứ chính? Điều 241 Bộ Luật Tố tụng hành chính
| TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| 226/2019/HC-PT “V/v khiếu kiện Quyết định giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực quản lý đất đai.” |
NHÂN DANH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Phạm Tồn
Các Thẩm phán:
Ông Lê Tự
Ông Nguyễn Tấn Long
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thanh Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Dung, Kiểm sát viên
Vào ngày 19 tháng 11 năm 2019 tại
-
ất đai. Do bản án hành chính sơ thẩm số: 03/2019/HC-ST ngày: 01- 8-2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1560/2019/QĐ-PT ngày 08 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:
-Nguyên đơn :
Đ.
Đ
M – mặt.
-Người bị kiện:
H –
-
H –
-Toà án tỉnh Quảng Bình đăng ký vào sổ số 03 ngày 25/6/2019), có mặt.
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
.
T –
.
Đ
Người bảo vệ quyền
A –
-
đăng ký vào sổ số 02 ngày 26/5/2019), có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Đ Đ), tại bản tự khai và tại các phiên đối thoại ông
–
Đ trình bày:
2
Công ty Đ
V Q
Đ
2
-Công ty Đ.
-
476m2
Đ
-
. Ông M
-
Ông M
-
Ông M
Ông M
-
Đ.
-
ng Đ như sau:
2
Công ty Đ V
Q Đ
2
-UBND thu
V
Q
Đ 2013.
B
-
B
khoản 2
-
Ông M
B
Đ
Đ
B
Đ
B
V
V
: L, V, C P
Ông M
Đ
B
-
-ty Đ:
-
ty
Đ
Ông M
Công ty Đ
Q
U
-Công
Đ
V
Q
-
, Gi
Đ
-
Đ.
V
-
- - s
Đ
-
Đ.
Đ
ngày 4/4/2019 của Cục Thi hành dân sự tỉnh Quảng Bình.
Sau khi xử sơ thẩm, ngày 07 tháng 8 năm 2018, Nguyên đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm; sửa án sơ thẩm hủy quyết định giải quyết khiếu nại số 878/QĐ-BTNMT ngày 20/3/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, buộc UBND tỉnh Quảng Bình bồi thường cho Công ty TNHH Phát triển Đầu tư và Xây dựng Đ số tiền 9.500.000.000đ (Chín tỷ năm trăm triệu đồng).
Tại phiên toà phúc thẩm, người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm buộc UBND tỉnh hỗ trợ cho Công ty Đ 9 tỷ đồng do công ty bị thu hồi đất và chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện, huỷ quyết định giải quyết khiếu nại số 878/QĐ-BTNMT ngày 20/3/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường vì Quyết định 878 ban hành trái pháp luật, cụ thể: Bà thứ trưởng không có uỷ quyền của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và cũng không được phân công nhiệm vụ ký quyết định giải quyết khiếu nại; Thời hạn thời hiệu ban hành quyết định giải quyết khiếu nại chậm; trình tự thủ tục giải quyết khiếu nại không đảm bảo đúng pháp luật; Hình thức Quyết định giải quyết khiếu nại không đúng theo hướng dẫn; Căn cứ pháp luật (điểm i khoản 1 Điều 64 Luật Đất đai) để công nhận việc thu hồi đất của UBND tỉnh Quảng Bình đối với Công ty Đ là không đúng vì việc chậm thực hiện dự án là do UBND tỉnh không bàn giao mặt bằng để khai thác mỏ đất sét làm nguyên liệu, đây là lý do bất khả kháng nên thu hồi đất là phải bồi thường.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện giữ nguyên quan điểm như án sơ thẩm.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho UBND tỉnh Quảng Bình không chấp nhận yêu cầu khởi kiện và cho rằng; việc thực hiện dự án xây dựng nhà máy gạch tuynel chậm tiến độ do lý do bất khả kháng là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 15 Nghị định 43 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2013.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về trình tự, thủ tục Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo các qui định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của các bên đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
-Văn M
Đ
y 16/3/2019, Ông M
-
Ông M
Xét kháng cáo của ông
Đ thì thấy:
và trình tự thủ tục ban hành Quyết định giải quyết khiếu nạ
-
Đ.
-
Ông M
K
Ông M
-BTNMT (do Thứ trưởng ký thay)
-BTNMT do Thứ trưởng ký thay Bộ Trưởng về bản chất không làm thay đối nội dụng sự việc. Do đó, về
Về căn cứ giải quyết khiếu nại: Xét yêu kháng c
Đ về QĐ thu hồi đất của UBND tỉnh Quảng Bình thì thấy:
Đ 2601/QĐ-UBND cho Công ty Đ thuê 25.476m2
V
Q
Đ
Đ
Đ
-
Đ
Đ
nên n
Q
-
Đ
-
êu cầu Công ty Đ
.
-
Đ
-
Đ
-
Đ
-
Đ
t
V
-
Đ
Đ
-UBND ng
2
Đ
V
Q đai năm 2013. Do đó; UBND tỉnh Quảng Bình thu hồi đất trong trường hợp này thì không bồi thường về đất và tài sản trên đất là đúng.
Đối với kháng cáo của Ông M cho rằng, UBND tỉnh Quảng Bình cấp phép khai thác mỏ sét B không đúng, không bàn giao mặt bằng nên không khai thác được, dẫn đến tiến độ thực hiện xây dựng dự án xây dựng nhà máy gạch Tuynel chậm tiến độ thì thấy:
Quá trình thực hiện dự án Công ty Đ gặp khó khăn khi giải phóng mặt bằng do một số hộ dân không có nhu cầu thu hồi đất, nên UBND tỉnh, Sở Tài nguyên và Môi trường đã có công văn yêu cầu phía Công ty gia hạn tiến độ thực hiện dự án, lập hồ sơ cấp phép khai thác ở những địa điểm mới nhưng Công ty Đ đã không thực hiện để khắc phục những khó khăn nêu trên, mặt dù phía bị kiện đã tạo mọi điều kiện. Do vậy, lỗi chậm thực hiện dự án là của phía Công ty Đ
Quảng Bình thu hồi đất không bồi thường tài sản trên đất là có căn cứ.
Theo qui định tại Điều 156 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép”.
Đối với kháng cáo yêu cầu hỗ trợ 9 tỉ đồng do thu hồi đất của Công ty Đ, Tòa cấp sơ thẩm nhận định là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên không xem xét. C
Xét thấy; Tòa Cấp sơ thẩm đã đánh giá khách quan toàn diện chứng cứ tài liệu thu thập được, áp dụng đúng pháp luật nên không có căn cứ lý lẽ gì để kháng cáo
-
-
-UBND như đề nghị của Đại diện VKS cấp cao tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay.
Về án phí phúc thẩm: kháng cáo của Ông M không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực thi hành.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241; Bộ Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
. Bác
ng Đ. Giữ nguyên bản án sơ thẩm án số: 03
-
- -
Tuyên xử:
Đ
-
Đ.
Đ 4/4/2019 của Cục Thi hành dân sự tỉnh Quảng Bình.
3. Về án phí phúc thẩm:
Đ phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền án phí đã nộp Tại biên lại thu số 0006223 ngày 12 tháng 8 năm 2019 của Cục Thi hành án dân sử tỉnh Quảng Bình.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị có hiệu lực thi hành.
Án phúc thẩm có luật kể từ ngày tuyên án hôm nay./.
| Nơi nhận: - TAND tối cao; - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Bình; - VKSND tỉnh Quảng Bình; - Cục THADS tỉnh Quảng Bình; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu HSVA, PHCTP, LT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Tồn |