- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình D phạm tội Trộm cắp tài sản. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình D phạm tội Trộm cắp tài sản.
- Căn cứ chính? Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TP BẮC NINH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 225/2023/HSST Ngày 29/9/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Ngọc Anh;
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Duyên; Bà Nguyễn Thị Mai Hương.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Khánh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Chiêm - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
Ngày 29/9/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai hình thức trực tuyến thụ lý số 226/2023/HSST, ngày 14/9/2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 226/2023/QĐXXST-HS ngày 18/9/2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình D, sinh năm 1986;
HKTT: Thôn Yên Giả, xã Yên Giả, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đình Sáu, sinh năm 1962; Con bà Phùng Thị Liễu, sinh năm 1966; Gia đình có 03 anh em, bị can là con thứ nhất; Vợ: Trịnh Thị Cạnh, sinh năm 1985; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2008
Tiền án: Tại Bản án số 04/2020/HSST ngày 14/01/2020 Toà án nhân dân huyện Quế Võ (nay là thị xã Quế Võ), tỉnh Bắc Ninh xử phạt 40 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”, Bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án, ra trại ngày 05/7/2022.
Tiền sự: Không
Nhân thân:
- Ngày 08/3/2016 bị Công an xã Yên Giả, huyện Quế Võ xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo về hành vi “Đánh bạc”.
- Ngày 25/5/2016 bị Toà án nhân dân huyện Quế Võ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày 30/4/2017.
- Ngày 29/9/2017 bị Toà án nhân dân huyện Quế Võ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 01/10/2019.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/7/2023 đến nay có mặt ở điểm cầu trực tuyến tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.
Bị hại:
1. Chị La Thị H, sinh năm 1981; HKTT: Bản Nàng, xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang (vắng mặt).
2. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1991; HKTT: Khu Hai Vân, phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1. Trịnh Đức D, sinh năm 1996; HKTT: Thôn Lập Ái, xã Song Giang, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
2. Nguyễn Văn L, sinh năm 1992; HKTT: Thôn Đồng Chuế, xã Nhân Hòa, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 02/7/2023, Nguyễn Đình D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Blade, BKS: 99E1-359.05 đi qua chợ Lãm Làng thuộc phường Vân Dương, thành phố Bắc Ninh thì nhìn thấy xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu xanh, BKS: 22K5-3026 của chị La Thị H đang dựng ở ngoài đường, ở hốc xe bên trái có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 màu đen. Thấy vậy, Dũng nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên bán lấy tiền ăn tiêu. Quan sát xung quanh không có ai để ý, trông coi, Dũng điều khiển xe mô tô tiến lại gần xe mô tô của chị Hiến rồi dùng tay trái lấy chiếc điện thoại di động OPPO A74 cho vào túi quần bên trái và điều khiển xe bỏ đi. Khi đến đoạn đường thuộc khu Công nghiệp Quế Võ, Dũng lấy điện thoại ra xem, tháo vỏ ốp điện thoại và sim vứt ở bụi cỏ bên đường. Khoảng 19 giờ cùng ngày, Dũng đến cửa hàng mua bán điện thoại Ishop địa chỉ ở khu Đông Dương, phường Nam Sơn, thành phố Bắc Ninh thì gặp chủ quán là anh Trịnh Đức D, Dũng bán chiếc điện thoại trên cho anh Duy với giá 800.000 đồng, anh Duy không biết chiếc điện thoại do Dũng trộm cắp, Dũng cầm tiền và đi về nhà.
Ngoài hành vi trên, qua đấu tranh xét hỏi Dũng khai nhận: Khoảng 18 giờ ngày 26/6/2023, Dũng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Blade, BKS: 99E1-359.05 đi lang thang ở khu chợ Lãm Làng, phường Vân Dương. Khi đi qua một cửa hàng bán giày dép, Dũng nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vison, BKS: 99G1-257.24 của chị Nguyễn Thị H đang đỗ ở trước cửa hàng, ở hốc bên trái của xe có để 01 điện thoại di động Iphone Xsmax màu vàng Gold nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Quan sát xung quanh không ai để ý, trông coi nên Dũng điều khiển xe mô tô tiến lại gần chiếc xe mô tô trên, dùng tay trái lấy chiếc điện thoại cho vào túi quần bên trái rồi điều khiển xe bỏ đi. Khi đi đến đoạn đường thuộc khu Công nghiệp Quế Võ, Dũng lấy điện thoại ra, tháo sim vứt ở dọc đường, khi mở máy thấy có mật khẩu nên Dũng ấn mở khoá nhiều lần nhưng không mở được dẫn đến máy điện thoại bị vô hiệu hóa không mở được nữa. Sau đó, Dũng điều khiển xe mô tô đến quán mua bán điện thoại LAM mobile có địa chỉ ở khu Mao Dộc, phường Phượng Mao, thị xã Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh bán cho anh Nguyễn Văn L được 1.000.000 đồng, anh Lan không biế tài sản do Dũng trộm cắp mà có, số tiền này Dũng đã chi tiêu cá nhân hết.
Vật chứng thu giữ:
- 01 chiếc điện thoại di động Iphone Xsmas màu vàng Gold có số IMEI1: 353097105700693; số IMEI2: 3530971050069 do anh Nguyễn Văn L tự nguyện giao nộp.
- 01 chiếc điện thoại di động OPPO A74 màu đen có số IMEI1: 86082154069115; IMEI2: 86082105469107 do anh Trịnh Đức D, tự nguyện giao nộp.
- 01 chiếc chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Blade, BKS: 99E1-359.05, quá trình điều tra xác định xe đăng ký tên chị Trịnh Thị Cạnh, sinh năm 1985, HKTT: Yên Giả, Yên Giả, Quế Võ, Bắc Ninh (vợ của Dũng).
- 01 đĩa DVD lưu giữ file video ghi lại hình ảnh Dũng trộm cắp tài sản và file video ghi lại hình ảnh Dũng bán điện thoại cho anh Duy.
- Tại cơ quan Công an Nguyễn Đình D tự nguyện giao nộp số tiền 800.000 đồng.
Tại Bản Kết luận định giá số 170/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản – UBND thành phố Bắc Ninh kết luận:
- Trị giá tài sản của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 màu đen là 3.600.000 đồng
- Trị giá tài sản của chiếc điện thoại di động nhãn hiệu di động Iphone Xsmas màu vàng Gold là 4.500.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 8.100.000 đồng.
Với nội dung trên cáo trạng số 180/CT-VKSNDTPBN, ngày 12/9/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố Nguyễn Đình D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Đình D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã nêu và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội trộm cắp tài sản là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình D phạm tội Trộm cắp táianr
Xử phạt: Bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù.
Phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu sung công quỹ số tiền 800.000 đồng
Bị cáo không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Ninh, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, Kiểm sát viên: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về chứng cứ buộc tội:
Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, lời khai của bị hại, đĩa DVD lưu giữ file video ghi lại hình ảnh Dũng trộm cắp, vật chứng thu được, bản kết luận định giá và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, của bị cáo, đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 18 giờ ngày 26/6/2023 bị cáo có hành vi lén lút lấy chiếc điện thoại di động Iphone XSMAX màu vàng Gold trị giá 4.500.000đ của chị guyễn Thị Hiền.
Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 02/7/2023, bị cáo có hành vi lén lút lấy chiếc điện thoại di động OPPO A74 màu đen trị giá 3.600.000đ của chị La Thị H.
Tổng giá trị 02 chiếc điện thoại là 8.100.000 đồng.
Hành vi trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội“Trộm cắp tài sản”, phạm vào khoản 1, Điều 173 BLHS mà Viện kiểm sát đã truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở sở hữu tµi s¶n cña công dân. Do vËy, cÇn ph¶i cã h×nh ph¹t nghiªm kh¾c nh»m gi¸o dôc bÞ c¸o vµ phßng ngõa chung.
Xét về nhân thân bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xử phạt hành chính và bị đưa đi cai nghiện bắt buộc và có 01 tiền án nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm, mặt khác bị cáo lại thực hiện 02 hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm h, g, khoản 1 Điều 52 BLHS.
Song, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn nhận tội, có thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xsmax màu vàng Gold trả lại cho chị Nguyễn Thị H, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74, màu đen trả lại cho chị La Thị H. Chị Hiền và chị Hiến đã nhận lại tài sản và không yêu cầu nên không xem xét.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Blade, BKS: 99E1-359.05, là tài sản hợp pháp của chị Trịnh Thị Cạnh (vợ của Dũng), Dũng sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp nhưng chị Cạnh không biết. Bởi vậy, cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho chị Trịnh Thị Cạnh là phù hợp.
- Đối với số tiền 800.000 đồng là số tiền Nguyễn Đình D bán điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A74 màu đen cho anh Trịnh Đức D, anh Duy không có yêu cầu gì nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 đĩa DVD lưu giữ file video ghi lại hình ảnh Dũng trộm cắp tài sản và file video ghi lại hình ảnh Dũng bán điện thoại cho anh Duy là vật chứng vụ án, cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ.
Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 1.800.000 đồng mà anh Trịnh Đức D và anh Nguyễn Văn L đã trả bị cáo để mua 02 chiếc điện thoại trên, anh Duy và anh Lan không yêu cầu bị cáo phải trả lại nên không xem xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Các vấn đề khác: Đối với anh Nguyễn Văn L và anh Trịnh Đức D là người mua 02 chiếc điện thoại do Dũng trộm cắp được, anh Lan, anh Duy không biết đây là tài sản do Dũng trộm cắp mà có, do vậy Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bắc Ninh không xem xử xử lý đối với anh Duy, anh Lan là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS; Khoản 1, Khoản 3 Điều 329; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/QH ngày 31/12/2016 của Quốc Hội.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình D phạm tội Trộm cắp tài sản.
Xử phạt: Nguyễn Đình D 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/7/2023. Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày 29/9/2023 để đảm bảo thi hành án.
Tịch thu sung công quỹ số tiền 800.000 đồng được niêm phong trong phong bì có mã tài sản 111000013345A hiện đang gửi tại Kho bạc Nhà nước theo biên bản nhận tài sản số 22/2023/BBBG-KBBN ngày 28/8/2023 giữa cơ quan CSĐT Công an TP Bắc Ninh và Kho bạc Bắc Ninh.
Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kết quả bản án hoặc ngày niêm yết kết quả bản án theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Ninh; - VKSND tỉnh BN - Trại tạm giam CATBN - VKSND thành phố Bắc Ninh; - Cơ quan ĐTCATPBN - Chi cục THADSthành phố Bắc Ninh; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Ngọc Anh |