vanban.org

Bản án 225/2023/DS-ST — Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 21/11/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Hồng T5 về việc “Tranh chấp hụi” đối với bà Trần Thị T.

Buộc bà Trần Thị T7 trả cho bà Đỗ Thị Hồng T14 góp hụi là 1.030.000.000đồng (Một tỷ không trăm ba mươi triệu đồng). Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Đỗ Thị Hồng T15 bà Trần Thị T16 thanh toán khoản tiền nêu trên thì bà T còn phải trả tiền lãi cho bà T theo lãi suất quy định tại khoản 2 Đ…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp về hụi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Hồng T5 về việc “Tranh chấp hụi” đối với bà Trần Thị T.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 144/2023/DS-ST
Ngày: 12 - 9 - 2023
V/v “Tranh chấp về hụi”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Trần Thị Hải.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Năm

Ông Trần Văn Tam

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa: Ông Mai Văn Thông– Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 258/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp về họ, hụi, biêu, phường” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 260/2023/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 10 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 1472/2023/QĐST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Đỗ Thị Hồng Tsinh năm: 1983

Địa chỉ: Trung tâm C, Đường H, Khu dân cư P, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Vũ Duy N– Công ty L– Thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ.

Địa chỉ: Số A, đường V, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

- Bị đơn: Trần Thị T1sinh năm: 1980

Địa chỉ: Tổ A, KP L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai

(Bà TT1 vắng mặt, Luật sư Nam có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản lấy lời khai nguyên đơn bà trình bày:

Năm 2016, bà vào làm tại công ty TNHH F. K, thành phố B, tỉnh Đồng NaiNên bà đã quen biết bà Trần Thị T(gọi tắt là “bà T1 một thời gian làm việc, bà có biết bà T1có tổ chức chơi hụi, qua giới thiệu của bà T1khi tham gia chơi hụi thì bà đã đồng ý chơi và đóng tiền hụi định kỳ cho bà T2 thể như sau:

- Từ ngày 10/10/2016 đến 11/10/2017: bà đóng 60.000.000 đồng (Sáu mười triệu đồng) và đã hốt 70.500.000 đồng (Bảy mươi triệu năm trăm nghìn đồng),

Ngày 10/11/2017 đến 10/11/2018: bà đóng 84.000.000 đồng (Tăm mười bốn triệu đồng) và đã hốt 98.700.000 đồng (Chín mươi tám triệu bảy trăm nghìn đồng);

Ngày 10/11/2018 đến 10/11/2019: bà đóng 600.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) và đã hốt 705.000.000 đồng (Bảy trăm lẻ năm triệu đồng);

Ngày 10/11/2019 đến ngày 10/11/2020: bà đóng 312.000.000 đồng (Ba trăm mười hai triệu đồng) và đã hốt 366.600.000 đồng (Ba trăm sáu mươi sáu triệu sáu trăm nghìn đồng). Tại thời điểm này, nhận thấy bà T1là người uy tín trong việc tổ chức chơi hụi nên từ ngày 10/10/2020, bà đã tiếp tục đóng hụi cho bà T1với số tiền ngày một tăng nhưng chưa hốt lần nào. Cụ thể các lần đóng như sau:

• Ngày 10/10/2020: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng).

• Ngày 10/11/2020: 86.000.000 đồng (T2mươi sáu triệu đồng),

• Ngày 10/12/2020: 86.000.000 đồng (T2mươi sáu triệu đồng);

• Ngày 10/01/2021: 86.000.000 đồng (T2mươi sáu triệu đồng),

• Ngày 10/02/2021; 86.000.000 đồng (T2mươi sáu triệu đồng).

• Ngày 10/3/2021: 112.000.000 đồng (Một trăm mười hai triệu đồng),

• Ngày 10/4/2021: 117.000.000 đồng (Một trăm mười bảy triệu đồng).

• Ngày 10/5/2021: 132.000.000 đồng (Một trăm ba mươi hai triệu đồng).

• Ngày 10/6/2021: 138.000.000 đồng (Một trăm ba mươi tám triệu đồng),

• Ngày 10/7/2021: 144.000.000 đồng (Một trăm bốn mươi bốn triệu đồng).

• Ngày 10/8/2021: 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).

Tổng cộng số tiền mà bà đã đóng cho bà T1là 1.138.000.000 đồng (Một tỷ một trăm ba mươi tám triệu đồng), bao gồm tiền mặt và chuyển khoản. Trong đó:

• Số tiền mặt mà bà đã đóng cho bà T1là 466.465.900 đồng (Bốn trăm sáu mươi sáu triệu, bốn trăm sáu mươi lăm nghìn chín trăm đồng), những lần đóng tiền mặt cho bà T1đều được bà T1ký xác nhận vào trong sổ hụi do bà giữ.

• Số tiền hụi mà bà đã chuyển tài khoản cho bà T1là 671.534.100 đồng (Sáu trăm bảy mươi mốt triệu năm trăm ba mươi bốn nghìn một trăm đồng) (Đính kèm sao kê các lần chuyển tiền).

Tháng 8/2021, bà T1thông báo tạm thời đóng cửa vì dịch bệnh đang diễn ra phức tạp.

Đến tháng 10/2021, bà T1tuyên bố bể hụi và có cam kết mỗi tháng sẽ trả dần cho bà 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) cho đến khi hết số tiền 1.138.000.000 đồng. Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện tại, bà T1chỉ mới thanh toán cho bà số tiền 108.000.000 đồng (Một trăm triệu triệu đồng), cụ thể:

• Đợt 01: Ngày 15/11/2021: 50.000.000 đồng (Năm năm triệu đồng);

• Đợt 02: Ngày 15/12/2021: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng);

• Đợt 03: Ngày 15/3/2022: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng);

• Đợt 04: Ngày 15/4/2022: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng):

• Đợt 05: Ngày 15/5/2022: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng);

• Đợt 06: Ngày 15/6/2022: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng);

• Đợt 07: Ngày 15/7/2022: 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng);

• Đợt 08: Ngày 15/8/2022: 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng);

Tổng số tiền bà T1còn thiếu là 1.030.000.000đồng (Một tỷ không trăm ba mươi triệu đồng).

Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị T phải thanh toán cho bà số tiền chơi hụi còn thiếu là dây hụi là 1.030.000.000đồng (Một tỷ không trăm ba mươi triệu đồng). Bà rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với phần lãi suất.

Quá trình chơi hụi giữa bà với bà T, bà là người trực tiếp đóng tiền hụi và chuyển khoản từ số tài khoản của bà là 0621000459836 Ngân hàng V số tài khoản của bà Trần Thị T3, việc bà chơi hụi bà không nói và ông Mai Đức C chồng của bà biết, đây là khoản tiền riêng của bà. Bà không yêu cầu Tòa án triệu tập ông Mai Đức C1 tham gia tố tụng.

Về án phí: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Đối với bị đơn bà Trần Thị T4 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến trình bày.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn phát biếu quan điểm tranh luận: Giữa bà T3và bà T1có quan hệ xã hội, nên từ tháng 10/2016 đến tháng 8/2021 bà T3đã góp hụi cho bà T1trong đó có một số dây hụi hốt rồi còn lại từ ngày 10/10/2020 đến ngày 10/8/2021 bà T3góp hụi cho bà T1tổng số tiền 1.138.000.000 đồng (Một tỷ một trăm ba mươi tám triệu đồng), bao gồm tiền mặt và chuyển khoản. Số tiền mặt mà bà T3đã đóng cho bà T1là 466.465.900 đồng. Số tiền bà T3chuyển tài khoản cho bà T1là 671.534.100 đồng. Trong tổng số tiền 1.138.000.000 đồng, bà T1đã chuyển trả cho bà T3được 108.000.000đồng, hiện bà T còn thiếu tiền hụi của bà T3là 1.030.000.000đồng. Đề nghị Tòa án buộc bà Trần Thị T trả cho bà Đỗ Thị Hồng T5 số tiền góp hụi là 1.030.000.000đồng. Trong thời gian chuẩn bị xét xử nguyên đơn bà Đỗ Thị Hồng T6 một phần yêu khởi kiện về việc không yêu cầu tính lãi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phát biểu quan điểm:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định.

- Về việc giải quyết vụ án: Bà Đỗ Thị Hồng T5 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Trần Thị T7 trả lại số tiền nợ hụi 1.030.000.000đồng (Một tỷ không trăm ba mươi triệu đồng) là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Trong thời gian Tòa án chuẩn bị xét xử nguyên đơn bà Đỗ Thị Hồng T6 một phần yêu cầu khởi kiện về việc không yêu cầu tính lãi suất, đây là sự tự nguyện của đương sự nên đền nghị Hội đồng xét xử xem xét đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Đỗ Thị Hồng T5 khởi kiện về việc “Tranh chấp họ, hụi, biêu, phường” đối với bị đơn là bà Trần Thị T hiện đang trú tại: Tổ A, KP L - Phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 3 Điều 26 và Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

Về quan hệ pháp luật: Bà Đỗ Thị Hồng T5 khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Thu t ttiền nợ hụi với tổng số tiền là 1.030.000.000đồng (Một tỷ không trăm ba mươi triệu đồng) nên được xác định là “Tranh chấp hụi”.

Về tố tụng:

Đối với ông Mai Đức C1 là chồng của bà T xác định số tiền 1.030.000.000đồng bà T8 hụi cho bà T là tài sản cá nhân của bà T9 Nay bà T khởi kiện yêu cầu bà T trả lại số tiền hụi trên ông không có ý kiến gì và đề nghị không đưa ông vào tham gia tố tụng. Xét thấy, ông Mai Đức C1 không liên quan gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử không đưa ông C vào tham gia tố tụng trong vụ án.

Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho bà Trần Thị T đầy đủ. Qua xác minh được biết bà T không còn sinh sống tại địa chỉ nguyên đơn cung cấp. Xét thấy, có căn cứ xác định là việc niêm yết công khai không bảo đảm cho người được cấp, tống đạt, thông báo nhận được thông tin về văn bản cần được cấp, tống đạt, thông báo. Theo đơn yêu cầu của nguyên đơn về việc thực hiện thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với bà Trần Thị T là bị đơn trong vụ án. Tuy nhiên, bà T vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Tòa án xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bà Đỗ Thị Hồng T5 có đơn xin xét xử vắng mặt, nên Tòa án xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự

Về yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy như sau: Việc trình bày ý kiến và cung cấp chứng cứ để chứng minh bảo vệ quyền lợi của mình vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của đương sự nhưng do bà Trần Thị T cố tình không đến Tòa làm việc, cũng không cung cấp chứng cứ chứng minh phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì mặc nhiên bà T thừa nhận là có thu tiền góp hụi của bà T10 quy định tại Điều 91 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nên Tòa án chỉ có thể căn cứ trên lời trình bày, các tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn cung cấp để giải quyết vụ án.

Xét yêu cầu của bà Đỗ Thị Hồng T5 về việc buộc bà Trần Thị T có nghĩa vụ trả 1.030.000.000đồng (Một tỷ không trăm ba mươi triệu đồng) tiền góp hui thì thấy:

Bà T11 định tổng số tiền bà góp hụi cho bà T1từ ngày 10/10/2020 đến ngày 10/8/2021 với số tiền là 1.138.000.000đồng bằng hình thức chuyển khoản và giao tiền mặt trực tiếp, bà T1đã thanh toán cho bà T được số tiền 108.000.000đồng, hiện bà T1còn thiếu tiền góp hụi của bà T12 1.030.000.000đồng. Căn cứ vào sao kê tài khoản tại ngân hàng V1 sổ hụi do bà T13 cấp. Do vậy, yêu cầu của bà Đỗ Thị Hồng T5 về việc buộc bà Trần Thị T có nghĩa vụ trả số tiền góp hụi 1.030.000.000đồng là có cơ sở chấp nhận, phù hợp với quy định tại Điều 23 Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Đỗ Thị Hồng T5 buộc bà Trần Thị T có trách nhiệm trả cho bà T số tiền số tiền góp hụi 1.030.000.000đồng.

Trong thời gian chuẩn bị xét xử nguyên đơn đã rút 01 phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu Tòa án buộc bà T1phải thanh toán tiền lãi trên số góp hụi gốc. Xét thấy việc rút 01 phần yêu cầu nói trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc rút 01 phần yêu cầu khởi kiện này không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về chi phí tố tụng: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm nguyên đơn đã nộp 10.000.000 đồng chi phi đăng trên cổng thông tin đại chúng. Do yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Hồng T5 được chấp nhận, nên bà Trần Thị T phải hoàn trả lại cho bà Đỗ Thị Hồng T5 chi phí đăng trên cổng thông tin đại chúng là 10.000.000 đồng.

Về án phí: Bà T1 phải chịu án phí theo quy định pháp luật. Hoàn trả tạm ứng án phí cho bà T9

Quan điểm của Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn cơ bản phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 39, khoản 2, khoản 4 Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Khoản 4 Điều 466; Điều 471 của Bộ luật dân sự năm 2015;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội và Điều 29;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị Hồng T5 về việc “Tranh chấp hụi” đối với bà Trần Thị T.

- Buộc bà Trần Thị T7 trả cho bà Đỗ Thị Hồng T14 góp hụi là 1.030.000.000đồng (Một tỷ không trăm ba mươi triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Đỗ Thị Hồng T15 bà Trần Thị T16 thanh toán khoản tiền nêu trên thì bà T còn phải trả tiền lãi cho bà T theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

- Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc không yêu cầu tính lãi suất trên có tiền góp hụi gốc.

2. Về chi phi tố tụng: Bà Trần Thị T có trách nhiệm hoàn trả cho bà Đỗ Thị Hồng T5 số tiền chi phí đăng trên cổng thông tin đại chúng là 10.000.000đồng.

3. Về án phí:

Về án phí: Bà Trần Thị T phải chịu 42.900.000đồng (Bốn mươi hai triệu chín trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Hoàn trả bà Đỗ Thị Hồng T5 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 21.913.500đồng đã nộp theo biên lai thu số 6411 ngày 24/02/2023 của Chi cục Thi hành sán dân sự thành phố B.

4. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ