- Tranh chấp gì? án hình sự — "MÃ HỮU HOÀNG - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 225/2022/HSST Ngày: 24/5/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Nam
2. Ông Phạm Văn Thanh
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang – Cán
bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên
tòa: Bà Trần Thị Cẩm Anh - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 250/2022/HSST ngày 14 tháng 4
năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1640/2022/QĐXXST-HS ngày
26 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo:
Mã Hữu H; giới tính: nam; sinh năm: 2001 tại: Bình Phước; thường trú:
Ấp A, xã B, huyện D, tỉnh Bình Phước; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh;
Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Sinh viên Trường Đại
học Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh; con ông: Mã Văn C và bà: Mai Thị T;
hoàn cảnh gia đình: bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Bị hại: Ông Trần Vĩnh T, sinh năm 1999
Trú tại: 25/18 A, Phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Phan H D, sinh năm
1955; HKTT: 178/29 B, phường C, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng
mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 10/2021, anh Trần Vĩnh T quen Mã Hữu H khi đi chơi game.
Tối ngày 31/10/2021, khi biết H chưa có chỗ trọ ổn định nên anh T rủ H về ở trọ chung tại phòng 307, nhà trọ số 25/18 A, phường B, quận C thì H đồng ý và sáng ngày 01/11/2021 H đến ở trọ chung cùng anh T.
Do cần tiền tiêu xài nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh T.
Vào lúc 13 giờ ngày 03/11/2021, lợi dụng lúc anh T đang ngủ trưa tại phòng trọ, H lén lấy 01 bóp tiền màu đen, mặt bóp có in hình hai con mắt để trên tủ lạnh, bên trong có 1.800.000 đồng tiền mặt; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F3, dung lượng 64GB, màu trắng, đang cắm sạc để dưới sàn nhà bỏ vào túi quần phải của H; sau đó, H tiếp tục lấy chìa khóa xe gắn máy của anh T treo trên tường, ngay gần cửa phòng ra vào rồi đi xuống nhà để xe tại tầng trệt nhà trọ. H cắm chìa khóa xe vào xe gắn máy hiệu Classical Mio màu xanh trắng, biển số 52T6- 4689 của anh T rồi chạy xe đi ra ngoài. Cùng ngày, do thấy và nhớ được mật khẩu điện thoại di động và mật khẩu ứng dụng của ngân hàng tên Fast Mobile của anh T, H sử dụng điện thoại vừa trộm được của anh T để chuyển khoản số tiền 1.930.000 đồng từ tài khoản Techcombank số 19037765852015 của anh T đến tài khoản ngân hàng Vietinbank số 108873129698 của H; rồi H chuyển tiếp số tiền này đến tài khoản ngân hàng Techcombank số 19034989252014 của H. Sau đó, H đến trụ ATM ngân hàng Techcombank (không nhớ rõ vị trí), sử dụng thẻ ATM của H để rút hết số tiền vừa lấy được trong tài khoản của anh T. Đến ngày 04/11/2021, H đem điện thoại di động của anh T đến một cửa hàng điện thoại tại quận Gò Vấp (không nhớ rõ địa điểm) bán được 800.000 đồng. H sử dụng chiếc xe gắn máy biển số 52T6-4689 làm phương tiện đi lại và sử dụng tiền trộm được vào để chơi game, tiêu xài cá nhân. Ngày 09/11/2021, H đến Cửa hàng Circle K, địa chỉ 29 C, Phường D, quận E để mua đồ dùng cá nhân và dựng chiếc xe gắn máy biển số 52T6-4689 tại đây, sau đó H đi bộ đến các tiệm game gần đó để chơi.
Do hối hận về hành vi trộm cắp tài sản của anh T, nên tối ngày 11/11/2021,
H liên lạc với anh T và hẹn gặp tại Cửa hàng Circle K trên để trả lại chiếc xe gắn máy cho anh T. Đến khoảng 14 giờ 30 phút ngày 12/11/2021, H quay lại Cửa hàng Circle K trên, thấy chiếc xe gắn máy biển số 52T6-4689 bị khóa xích nên H đã yêu cầu nhân viên Cửa hàng Circle K mở khóa xích; sau đó, H bỏ chìa khóa xe vào hộc đựng đồ phía trước xe, lấy khẩu trang che chìa khóa lại, vẫn dựng xe ở đây và đi ra khu vực gần đó đứng chờ. Đến chiều tối cùng ngày 12/11/2021, H thấy anh T đến Cửa hàng Circle K nêu trên, nên H bỏ đi đến tiệm game gần đó chơi tiếp. Ngày 13/11/2021, H đến Công an Phường B, quận C đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội.
Ngày 24/12/2021, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban
Nhân dân quận C Kết luận định giá tài sản số 213/HĐĐGTS-TTHS, kết
luận:“Tại thời điểm tháng 11/2021, chiếc xe máy hiệu Yamaha Mio Classico
biển số 52T6- 4689 có giá trị 7.300.000 đồng và chiếc điện thoại di động OPPO
F3 64GB có giá trị 1.500.000 đồng”.
Ngày 30/12/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hồ Chí
Minh Kết luận giám định số 6368/KLGĐ-TT, kết luận đối với dữ liệu camera:
“Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong tập tin
video cần giám định. Đã trích xuất dữ liệu nội dung hình ảnh trong tập tin video
cần giám định ra bản ảnh và mô tả đặc điểm hình ảnh đã trích xuất” (bút lục
108)
Tại Cơ quan điều tra Mã Hữu H đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu
trên.
* Vật chứng thu giữ:
-
01 (một) áo thun ngắn tay, màu trắng, phía trước có chữ “Hi! I AM
Mozzle”
-
01 (một) quần thun, ống dài, màu đen, có chữ “adidas”
-
01 (một) nón kết, màu đen;
-
01 (một) nón bảo hiểm, màu vàng;
-
01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, số IMEI1: 864164042538156, số
IMEI2: 864164042538149, bị nứt màn hình.
-
01 (một) bóp màu đen.
- 01 (một) chiếc xe máy hiệu Mio Classico, màu xanh, trắng, biển số 52T6 -
4689, đã qua sử dụng. Kết quả điều tra, xác minh, xác định: Xe máy biển số
52T6 - 4689 không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng. Người đứng tên xe là bà
Phan H D (sinh năm 1955; HKTT: 178/29 Trần Hưng Đạo, Nguyễn Cư Trinh,
Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh), là bà ngoại của anh Trần Vĩnh T, bà Diệu
hiện đã xuất cảnh, định cư tại Hoa Kỳ từ ngày 30/8/2018. Xe trên bà Diệu cho
anh T nhưng không lập giấy tờ cho, tặng. Qua lời khai của bà Hồ Vĩnh H Trâm
(là con ruột của bà Diệu và là mẹ ruột của anh T) cho biết bà Trâm đã điện thoại
cho bà Diệu và bà Diệu xác nhận xe máy trên đã cho anh T và anh T mới là chủ
sở hữu, bà Diệu không có yêu cầu gì đối với xe trên. Ngày 12/11/2021, Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an quận Tân Bình đã thu giữ xe máy biển số 52T6 –
4689.
- * Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị can Mã Hữu H đã khắc phục, bồi
thuờng cho anh Trần Vĩnh T số tiền 10.000.000 đồng và anh T đã có đơn bãi nại
và xin xem xét giảm nhẹ cho bị can H.
Tại bản cáo trạng số 160/CT-VKS-P2 ngày 23/3/2022 của Viện kiểm sát
nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo: Mã Hữu H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã
nêu và xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày bản
luận tội, xác định nội dung Bản cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Đồng thời, sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng kể từ ngày tuyên án. Đối với vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết
quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành
phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với việc vắng mặt của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên
quan: Đã được Tòa án triệu tập và niêm yết hợp lệ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.
Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa
nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, từ đó xác định được: Khoảng 13 giờ ngày 31/10/2021 tại phòng 307, nhà trọ số 25/18 A, phường B, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Mã Hữu H lợi dụng lúc anh Trần Vĩnh T ngủ trưa, bị cáo đã lén lấy trộm 01 bóp tiền màu đen, bên trong có 1.800.000 đồng tiền mặt; 01 điện thoại di động hiệu OPPO F3; lấy chìa khóa xe máy rồi xuống tầng trệt nhà trọ cắm chìa khóa xe vào xe gắn máy hiệu Classical Mio màu xanh trắng, biển số 52T6- 4689 của anh T rồi chạy xe đi
ra ngoài. H sử dụng điện thoại vừa trộm được của anh T để chuyển khoản số tiền
1.930.000 đồng từ tài khoản của anh T vào tài khoản của H. Tổng trị giá tài sản
Mã Hữu H chiếm đoạt của anh T là 12.530.000 đồng.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm
và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa
đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ
Chí Minh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp
luật.
. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy tại Cơ quan điều tra
cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đầu
thú, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt
cho bị cáo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình
tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2
Điều 51 Bộ luật Hình sự, cần áp dụng cho bị cáo.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm tài sản hợp pháp của cá
nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng
xét xử xem xét hành vi của bị cáo, tính chất, mức độ, động cơ phạm tội, các tình
tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, xét bị cáo có nhân thân tốt,
ngoài lần phạm tội này chưa từng phạm tội và có nhiều tình tiết giảm nhẹ khác,
không có tình tiết tăng nặng, hiện đang là sinh viên, nên không cần cách ly khỏi
đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo theo Điều 65 Bộ luật Hình sự
cũng đủ tác dụng cải tạo giáo dục, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Trên đây cũng là quan điểm lập luận của Hội đồng xét xử đối với đề nghị
của đại diện Viện kiểm sát.
Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Về trách nhiệm dân sự: Gia đình bị cáo đã khắc phục, bồi thuờng cho bị hại
số tiền 10.000.000 đồng và tại phiên tòa hôm nay anh Trần Vĩnh T có đơn xin
xét xử vắng mặt và không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Về số tiền đã bồi
thường là 10.000.000 đồng bị cáo cũng đồng ý và không có ý kiến gì.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo được xác định không có
liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo Mã Hữu H;
- Đối với 01 (một) chiếc xe máy hiệu Mio Classico, màu xanh, trắng, biển
số 52T6 - 4689, đã qua sử dụng. Kết quả điều tra, xác minh, xác định: Người
đứng tên xe là bà Phan H D (sinh năm 1955; HKTT: 178/29 D, phường E, Quận
F, Thành phố Hồ Chí Minh), là bà ngoại của anh Trần Vĩnh T, bà D hiện đã xuất
cảnh, định cư tại Hoa Kỳ từ ngày 30/8/2018. Xe trên bà D cho anh T nhưng
không lập giấy tờ cho, tặng. Qua lời khai của bà Hồ Vĩnh H Trâm (là con ruột
của bà D và là mẹ ruột của anh T) cho biết bà T đã điện thoại cho bà D và bà D
xác nhận xe máy trên đã cho anh T và anh T mới là chủ sở hữu, bà D không có yêu cầu gì đối với xe trên. Do vậy cần trả xe máy hiệu Mio Classico, màu xanh, trắng, biển số 52T6 – 4689 cho anh Trần Vĩnh T.
- Đối với số tang vật còn lại không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2017. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65
Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Mã Hữu H: 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”
nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/5/2022). Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bình Phước giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Áp dụng Điều 46 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Trả cho bị cáo Mã Hữu H: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo, số
IMEI1: 864164042538156, số IMEI2: 864164042538149, bị nứt màn hình (thực nhận 01 điện thoại vivo, không kiểm tra được imei, tình trạng do không có nguồn điện, bể màn hình, hư cũ, trầy xước);
+ Trả cho ông Trần Vĩnh T 01 (một) xe hai bánh gắn máy, nhãn hiệu
yamaha, số loại Mio Classcico, dung tích xilanh 113,7; biển số 52T6 – 4689; SK: RLCM4D1106Y002006; SM: 4D11-002006 (sét mờ) (không gương, dàn nhựa bể, yên rách, trầy xước, xe cũ rỉ sét, máy móc bên trong không kiểm tra).
+ Tịch thu tiêu hủy số tang vật gồm:
- 01 (một) áo thun ngắn tay, màu trắng, phía trước có chữ “Hi! I AM
Mozzle”
- 01 (một) quần thun, ống dài, màu đen, có chữ “Adidas”
- 01 (một) nón kết, màu đen;
- 01 (một) nón bảo hiểm, màu vàng;
- 01 (một) bóp màu đen (bên trong không chứa gì).
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2022/377 ngày 20/4/2022 của
Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh)
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo xin
xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt
có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc
niêm yết bản án.
(Đã giải thích chế định về án treo).
| Nơi nhận: - TAND TC (1) - TAND Cấp Cao; (1) - VKSND TP. HCM; (3) - Cục THA DS; (1) - Sở tư pháp; (1) - Bị cáo; (1) - Bị hại (1) - THA HS; (1) - Phòng PC 53 - CA TP. HC (1) - UBND nơi bị cáo cư trú; (1) - Lưu: VT, THS, hồ sơ; (20) (3) | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Văn Hải |