vanban.org

Bản án 225/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 30/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: bị cáo Phạm Bá Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt bị cáo Phạm Bá Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2022. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe gắn máy biển số 59V2-379.73, số khung: RLHJC538XEZ046027, số máy: JC54E-3071980, nếu sau này có ai tranh chấp với bị cáo sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Bá Đạt - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Bá Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 225/2022/HSST
Ngày: 30/09/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ H CH MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Định.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Rồi.

2. Bà Phan Thị Xuân Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Cẩm Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đ i di n i n ki m s t nh n d n huy n

hi Thành ph Hồ h Minh: Bà Nguyễn Thị Hạnh – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 09 năm 2022, tại Văn phòng ấp 3A, xã Tân Thạnh Đông, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lưu động sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 166/2022/HSST, ngày 06 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2022/QĐXXST-HS ngày 19/9/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Bá Đ; Sinh năm 1987; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 43/3 HT13, khu phố 3, phường H, Quận 12, thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: ấp 3, xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Tài xế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Văn N và bà Đào Ngọc B (chết); Hoàn cảnh gia đình: Anh chị em ruột có 02 người (kể cả bị cáo), bị cáo có vợ tên Lê Thị Thu T; Có 02 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2015.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 31/5/2022 cho đến nay, hiện có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Trần Võ Phương T, sinh năm 1993.

Địa chỉ: Số 18/5 Sông Lu, ấp 1A, xã H, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 05 giờ 00 phút, ngày 31/5/2022, Phạm Bá Đ điều khiển xe gắn máy biển số 59V2-379.73 từ nhà tại ấp 3, xã Đ, huyện H để đi xã T, huyện C. Khi đến đường Tỉnh lộ 8 thuộc ấp 4, xã H, huyện C, Đ dừng lại để mua bánh chuối nướng, lúc dừng xe để mua bánh chuối thì Đ phát hiện chị Trần Võ Phương T (sinh năm 1993) điều khiển xe gắn máy hiệu Vision biển số 59Y3-435.05 đang dừng xe phía trước Đ, ở hộc xe phía trước bên trái xe của chị T có 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6Z màu đen. Lúc này, Đ nảy ý định cướp giật chiếc điện thoại của chị T, Đ liền điều khiển xe đi lên sát gần xe chị T rồi dùng tay phải giật lấy điện thoại ở hộc xe của chị T, rồi chuyển điện thoại sang tay trái, sau đó tăng ga bỏ chạy, chị T truy hô “cướp, cướp” rồi đuổi theo xe của Đ được khoảng 300m thì chị T ép xe Đ, dùng mũ bảo hiểm đánh 02, 03 cái vào Đ nhưng do bị mất thăng bằng chị T té ngã. Lúc này, anh Đặng Công D phát hiện nên điều khiển xe gắn máy đuổi theo Đ, khi đến địa phận ấp A, xã T, huyện C thì cùng với lực lượng Công an xã Trung An, huyện Củ Chi hỗ trợ bắt quả tang Đ cùng tang vật.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 78/KL-HDĐGTS ngày 02/6/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: Điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6Z màu đen, số Imei 1: 869904054892933, số Imei2: 869904054892925 có trị giá 4.000.000 đồng.

Phần dân sự: Gia đình bị can Phạm Bá Đ đã bồi thường cho bị hại Trần Võ Phương T số tiền 10.000.000 đồng và bị hại có đơn bãi nại. Bị hại không yêu cầu gì thêm.

Tại bản cáo trạng số 163/CT-VKS.CC ngày 05/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Củ Chi để xét xử Phạm Bá Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại hồ sơ. Bị cáo khai rằng: Ngày 31/5/2022, bị cáo điều khiển xe gắn máy đến đường Tỉnh lộ 8 thuộc ấp 4, xã H, huyện C thì phát hiện chị Trần Võ Phương T đang dừng xe phía trước Đ, ở hộc xe phía trước bên trái xe của chị T có 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6Z màu đen. Lúc này, Đ điều khiển xe đi lên sát gần xe chị T rồi dùng tay phải giật lấy điện thoại ở hộc xe của chị T, rồi tăng ga bỏ chạy, chị T truy hô “cướp, cướp” rồi đuổi theo xe của Đ được khoảng 300m thì chị T ép xe Đ, dùng mũ bảo hiểm đánh 02, 03 cái vào Đ nhưng do bị mất thăng bằng chị T té ngã. Lúc này, anh Đặng Công D phát hiện nên điều khiển xe gắn máy đuổi theo Đ, khi đến địa phận ấp A, xã T, huyện C thì cùng với lực lượng Công an xã Trung An, huyện Củ Chi hỗ trợ bắt quả tang Đ cùng tang vật.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Phạm Bá Đ về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cần xem xét các tình tiết sau:

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, đã bồi thường thiệt hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại bãi nại theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Đề nghị:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Bá Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phạm Bá Đ từ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng đến 04 (bốn) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản là chiếc điện thoại Oppo Reno 6Z màu đen. Quá trình bị hại bị cướp giật tài sản đã bị té, xây xước nhẹ, gia đình bị cáo đã bồi thường cho người bị hại Trần Võ Phương T số tiền 10.000.000 đồng, bị hại không còn yêu cầu gì khác và đã bãi nại cho bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe gắn máy biển số 59V2-379.73, số khung: RLHJC538XEZ046027, số máy: JC54E-3071980.

- Trả cho bị cáo Đ 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno A37FW màu trắng, số Imei 1:8663603139091, số Imei2: 86636031389083 và 01 cái áo khoác màu đen.

Bị cáo không tranh luận, không tự bào chữa.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất ăn năn, hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Củ Chi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Đ đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ. Ngày 31/5/2022, bị cáo giật 01 chiếc điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6Z màu đen của chị Trần Võ Phương T trị giá 4.000.000 đồng thì bị bắt giữ.

Bằng hành vi trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phạm Bá Đ đã phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, với phương thức lợi dụng sơ hở của người quản lý, đã chiếm Đ tài sản, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức rõ việc bị cáo chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái, phạm pháp, hành vi giật điện thoại của bị cáo có thể làm cho bị hại bị té ngã khi đang điều khiển phương tiện giao thông, ảnh hưởng đến tính mạng và sức khỏe, thế nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội chỉ vì cần tiền tiêu xài nhằm thoả mãn động cơ tư lợi riêng của cá nhân bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt đồng thời phòng ngừa chung cho xã hội.

Tuy nhiên cần xem xét tính chất và mức độ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân của bị cáo để có mức hình phạt tương xứng là phù hợp.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu, đã bồi thường thiệt hại, được người bị hại bãi nại, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là phù hợp.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Trần Võ Phương T đã nhận lại tài sản là chiếc điện thoại Oppo Reno 6Z màu đen. Quá trình bị hại bị cướp giật tài sản đã bị té, xây xước nhẹ, gia đình bị cáo đã bồi thường cho người bị hại Trần Võ Phương T số tiền 10.000.000 đồng, bị hại không còn yêu cầu gì khác và đã bãi nại cho bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

01 xe gắn máy biển số 59V2-379.73, số khung: RLHJC538XEZ046027, số máy: JC54E-3071980, bị cáo khai là xe của bị cáo mua và nhờ cậu ruột là ông Đào Văn B đứng tên đăng ký xe dùm, hiện không xác định được nơi ở của ông B, Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra thông báo truy tìm nhưng đến nay không ai đến nhận xe, đây là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội, do đó tịch thu nộp ngân sách Nhà nước, nếu sau này có ai tranh chấp với bị cáo sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự là phù hợp.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno A37FW màu trắng, số Imei 1:8663603139091, số Imei2: 86636031389083 là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án, do đó trả cho bị cáo là phù hợp.

- 01 cái áo khoác màu đen là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến vụ án, bị cáo xin nhận lại, do đó trả cho bị cáo là phù hợp.

Đối với điện thoại di động hiệu Oppo Reno 6Z màu đen, số Imei 1: 869904054892933, số Imei2: 869904054892925 là tài sản của bị hại, Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà T là phù hợp nên không xét.

[6] Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Áp dụng Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Bị cáo Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: bị cáo Phạm Bá Đ phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo Phạm Bá Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/5/2022.

- Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

+ Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 xe gắn máy biển số 59V2-379.73, số khung: RLHJC538XEZ046027, số máy: JC54E-3071980, nếu sau này có ai tranh chấp với bị cáo sẽ giải quyết bằng vụ kiện dân sự khác.

+ Trả cho bị cáo Đ 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno A37FW màu trắng, số Imei 1:8663603139091, số Imei2: 86636031389083 và 01 (một) cái áo khoác màu đen.

- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Phạm Bá Đ phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI Đ NG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ